vanban.org

Bản án 200/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của ông Nguyễn Hoàng S.

Bà Tạ Thị Hồng T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoàng Quốc T1, sinh ngày 23/9/2010. Bà Tạ Thị Hồng T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Hoàng S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông S yêu cầu thay dodoirr người trực tiếp nuôi con."
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của ông Nguyễn Hoàng S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 200/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 18-10-2018
V/v “Tranh chấp về thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tới.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hồng.

Bà Nguyễn Thị Ly.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 221/2018/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2018 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1987. (có mặt)

Nơi cư trú: khu phố A, phường B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Tạ Thị Hồng T, sinh năm 1989.(vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp M, xã A, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 31 tháng 10 năm 2017, tờ tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng S trình bày:

Ông và bà T sống chung với nhau năm 2009, có đăng ký kết hôn, sống hạnh phúc đến năm 2016 thì mâu thuẫn. Ông và bà T ly hôn theo quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 356/2016/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2016 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thanh phố Hồ Chí Minh. Theo quyết định, bà T Được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoàng Quốc T1, sinh ngày 23 tháng 9 năm 2010. Hiện bà T đã có chồng nên không đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1. Nay ông S yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, ông yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1.

Tại tờ tường trình, bị đơn bà Tạ Thị Hồng T trình bày: Bà không đồng ý theo yêu cầu của ông S, mặc dù bà đã có gia đình nhưng cháu T1 sống với bà vẫn phát triển tốt về thể chất và tinh thần, để đảm bảo ổn định tâm lý cho cháu T1, bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Hoàng S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Xét thấy, quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự ngày 12/4/2016 đã có hiệu lực pháp luật và không bị kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm. Ông S cho rằng do bà T đã có gia đình riêng nên không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng Cháu T1. Tuy nhiên, theo biên bản xác minh ngày 29/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, xác định: Cháu T1 vẫn phát triển bình thường về thể chất, tinh thần, nhà bà T gần trường học, trạm y tế và có sức khỏe tốt để chăm sóc, nuôi dưỡng con. Mặt khác, nguyện vọng của Cháu T1 muốn tiếp tục sống chung với bà T nên việc ông S yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn không có cơ sở chấp nhận.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Ông Nguyễn Hoàng S khởi kiện bà Tạ Thị Hồng T xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Thịnh cư trú Ấp M, xã A, huyện C, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, phù hợp theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Tạ Thị Hồng T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung: Ông Nguyễn Hoàng S yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng Quốc T1 với lý do bà Tạ Thị Hồng T hiện nay đã có chồng, không đủ điều kiện để nuôi dưỡng Cháu T1. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt về quyền lợi của con chưa thành niên. Hiện nay cháu T1 đã sống ổn định với Thoa, cháu T1 cũng có nguyện vọng sống với mẹ. Tại biên bản xác minh ngày 29 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thì cháu T1 sống với bà T phát triển tốt về tinh thần và thể chất, Cháu T1 đang đi học, nhà bà T gần trường học, trạm y tế, đảm bảo về việc học hành cũng như chăm sóc sức khỏe cho cháu T1. Tuy bà T đã có gia đình nhưng vẫn đảm bảo những điều kiện để cháu T1 phát triển toàn diện. Tránh xáo trộn không cần thiết, ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển về tâm sinh lý của cháu T1. Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông S.

. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Hoàng S phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 28, 35, 39, 147, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của ông Nguyễn Hoàng S.

- Bà Tạ Thị Hồng T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoàng Quốc T1, sinh ngày 23/9/2010.

Bà Tạ Thị Hồng T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Hoàng S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về án phí: Ông Nguyễn Hoàng S phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2017/0001547 ngày 14 tháng 11 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận B.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ