- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thị Kim O - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Kim O phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 139 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 200/2017/HSST Ngày: 31/8/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Võ Thành Viên
2/ Bà Lê Thị Thanh Hồng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt - Cán bộ Tòa
án nhân dân quận Gò Vấp Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2015 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ
Chí Minh mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 178/2017/HSST ngày 02 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Đỗ Thị Kim O; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1983 tại Thành phố Vũng Tàu; Hộ
khẩu thường trú: Cao Bá Quát, phường Rạch Dừa, Thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; Chỗ ở: Quang Trung, phường 10, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Đỗ Tiến H và bà Vũ Thị N; Có chồng tên Phạm Nguyễn Viết N, có 02 người con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền sự: không; Tiền án: không ; Bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 01/3/2017, hủy bỏ biện pháp tạm giam ngày 07/3/2017 (có mặt).
Người bị hại: Ông Vũ Minh T, trú tại: Lê Hồng Phong, phường 2, quận 11,
Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
NHẬN THẤY
Bị cáo Đỗ Thị Kim O bị Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố về
hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 26/02/2017, Đỗ Thị Kim O đến khu chợ mua bán đồ
cũ trên đường Nơ Trang Long quận Bình Thạnh tìm mua nhẫn kim loại có đính hạt (dạng nhẫn Mỹ) với giá 55.000 đồng /cái với mục đích lừa bán cho người khác để hưởng lợi. Để người mua tin là nhẫn vàng, O tìm trên Internet bán nhẫn vàng Mỹ với giá 2.800.000 đồng/chiếc. Khoảng 11 giờ ngày 27/02/2017, anh Vũ Minh T liên lạc với O để mua nhẫn, O hẹn gặp anh T tại trước nhà số 379 Quang Trung, phường 10, quận Gò Vấp. Sau khi xem nhẫn, anh T yêu cầu O cùng đến tiệm vàng để kiểm tra chất lượng nhẫn thì O không đồng ý, đồng thời lấy giấy bảo đảm vàng chuẩn bị sẵn đưa cho anh T và nói đây là nhẫn Mỹ vàng 10K, anh T xem giấy do O đưa thì đồng ý mua và trả giá chiếc nhẫn là 2.700.000 đồng. Sau khi mua nhẫn, anh T đi tìm tiệm vàng Xuân Quỳnh theo địa chỉ ghi trên giấy là 369 Đinh Bộ Lĩnh, phường 26, quận Bình Thạnh nhưng địa chỉ này không có thật, không có tiệm vàng Xuân Quỳnh, anh T đem nhẫn đến tiệm vàng gần nhà để thử thì được biết nhẫn được làm từ hợp chất đồng – kẽm, không phải nhẫn vàng nên điện thoại cho O để đòi lại tiền nhưng O không nghe điện thoại. Ngày 28/02/2017, anh T dùng số điện thoại khác liên lạc với O giả vờ mua nhẫn, khi đi đến chỗ hẹn gặp tại số 379 Quang Trung, phường 10, quận Gò Vấp, anh T bắt giữ O, trình báo Công an phường 10, quận Gò Vấp.
Vật chứng:
- Số tiền 2.700.000 đồng thu giữ của O, Cơ quan điều tra đã xử lý vật
chứng trả lại cho anh Vũ Minh T.
- 21 nhẫn kim loại màu vàng đính hột màu xanh; 01 nhẫn kim loại màu
vàng không đính hột; 01 ĐTDĐ Huawei màu trắng và 01 ví màu đen đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo phiếu nhập kho số 543/PNK ngày 21/7/2017
Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Thị Kim O đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
như trên
Tại bản cáo trạng số 189/Ctr-VKS, ngày 28/7/2017 của Viện kiểm sát nhân
dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Đỗ Thị Kim O về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi luận tội, đưa ra quan điểm xét xử đối
với vụ án đã đề nghị:
- Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Kim O từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án
treo.
- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào
kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY
Tại phiên toà, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công
bố bản cáo trạng thì Đỗ Thị Kim O đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đối chiếu lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị
hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để kết luận hành vi của bị cáo Đỗ Thị Kim O đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 139 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối
lừa người bị hại để chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản được pháp luật và nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải thông qua lao động chân chính, bị cáo lao vào con đường phạm tội bất chấp hậu quả xảy ra. Số tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá là 2.700.000 đồng nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 139 của Bộ luật hình sự là phù hợp qui định pháp luật. Vì vậy đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mới đủ tác dụng giúp bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét một số tình tiết bị cáo chưa có
tiền án, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và qua đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách lâu dài cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 139 của Bộ luật Hình sự,
xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, người bị hại là ông Vũ Minh T vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể
hiện ông Tiến đã nhận lại tài sản bị lừa đảo chiếm đoạt, không yêu cầu gì thêm nên tại phiên tòa ngày hôm nay Hội đồng xét xử không xem xét lại.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 21 nhẫn kim loại màu vàng đính hột màu xanh; 01 nhẫn kim loại
màu vàng không đính hột, 01 ví màu đen đã qua sử dụng là vật chứng vụ án bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu trắng bị cáo sử dụng liên
lạc liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Kim O phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 139; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 của Bộ
luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Kim O 09(chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,
thời gian thử thách là 01(một) năm 06(sáu) tháng.
Tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường 10 quận Gò Vấp Thành Phố Hồ Chí
Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực
hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Áp dụng khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu trắng;
- Tịch thu tiêu hủy 21 nhẫn kim loại màu vàng đính hột màu xanh; 01 nhẫn
kim loại màu vàng không đính hột, 01 ví màu đen đã qua sử dụng.
(theo Phiếu nhập kho vật chứng số 543/PNK ngày 21/7/2017 của Công an
quận Gò Vấp).
Áp dụng khoản 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và pháp lệnh số
10/2009/UBTVQH12, ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được
tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
( Chủ tọa đã giải thích chế định án treo)
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - Viện kiểm sát quận Gò Vấp; - Thi hành án dân sự quận Gò Vấp; - Công an quận Gò Vấp; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Tường Linh |