vanban.org

Bản án 20

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Hoàng Phước - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật hình sự Xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1-ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 20/2026/HS-ST
Ngày: 04/2/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kiều Hương

Ông Nguyễn Thành Luân

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Yến Oanh-Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1-Đồng Tháp

Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 1-Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Hoàng – Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 2 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1-Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Trần Hoàng P, sinh năm 1994 tại Đồng Tháp

CCCD số: 082094007407 cấp ngày 01/11/2022 nơi cấp Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C

Địa chỉ thường trú: 5 Khu phố M, phường M, tỉnh Đồng Tháp

Nơi ở hiện nay: 1 T, phường M, tỉnh Đồng Tháp

Nghề nghiệp: lao động tự do

Trình độ học vấn: 6/12

Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nam

Tôn giáo: không;

Quốc tịch: Việt Nam

Cha: Trần Minh H sinh năm 1968 (đã chết)

Mẹ: Lâm Thị H1 sinh năm 1968.

Bị cáo chưa vợ con.

Tiền án: không.

Tiền sự: 01 lần.

Ngày 30/5/2024 bị Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho , tỉnh Tiền Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1-Đồng Tháp) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 101/QĐ-TA với thời hạn 15 tháng.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/9/2025.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Hoàng P là người nghiện ma túy và thuộc diện bị quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo Quyết định số 426/QĐ-UBND ngày 29/7/2025 của Ủy ban nhân dân phường M, tỉnh Đồng Tháp, thời hạn 02 năm kể từ ngày 29/7/2025 đến ngày 28/7/2027.

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 07/8/2025 tại ấp B, xã C, tỉnh Đồng Tháp, Công an xã C phát hiện bị cáo Trần Hoàng P có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, nên mời làm việc thì bị cáo Trần Hoàng P khai nhận khoảng 16 giờ ngày 07/8/2025 bị cáo đến địa bàn phường M tìm và gặp một người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá rồi đi đến 01 đường hẽm thuộc phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp để sử dụng ma túy một mình. Hình thức sử dụng là dùng nỏ tự chế, đốt nóng ma túy rồi hút vào người. Tiến hành xét nghiệm nhanh nước tiểu của P cho kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamine nên Cơ quan điều tra tiến hành thu mẫu nước tiểu giám định. Theo kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh Đ trong mẫu nước tiểu thu giữ ngày 08/8/2025 của Trần Hoàng P tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine.

Vật chứng, đồ vật bị Cơ quan điều tra thu giữ:

- 01 que test nhanh nước tiểu của Trần Hoàng P

- 01 vỏ đựng que test nhanh, hiệu FASTEP được đặt trong một bì thư bên trên có chữ ký của người bị xét nghiệm Trần Hoàng P, người tiến hành xét nghiệm Lê Quang H2 và người chứng kiến Võ Minh Đ kèm theo hồ sơ vụ án. 01 đĩa DVD lưu trữ dữ liệu điện tử ghi hình có âm thanh việc hỏi cung bị cáo Trần Hoàng P kèm theo hồ sơ vụ án.

* Tại Bản kết luận giám định số 1064/KL-KTHS ngày 16/8/2025 của Phòng K - Công an tỉnh Đ kết luận:

Tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu chứa trong 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu xanh đậy kín ghi thu của Trần Hoàng P, được niêm phong bằng giấy trắng có các chữ ký ghi họ tên: Lê Quang H2, Võ Minh Đ và Trần Hoàng P.

* Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKSCT ngày 12/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân đã truy tố bị cáo Trần Hoàng Phước về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Đồng Tháp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng P phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Trần Hoàng P từ 02 năm – 2 năm 06 tháng tù giam về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”

Về xử lý vật chứng:

Không có, không đặt ra xem xét giải quyết

Về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hoàng P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại hay có ý kiến gì về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 07/8/2025 tại ấp B, xã C, tỉnh Đồng Tháp, Công an xã C phát hiện bị cáo Trần Hoàng P là người thuộc diện bị quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo Luật phòng chống ma túy có hành vi tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, theo kết luận giám định trong mẫu nước tiểu thu giữ ngày 08/8/2025 của Trần Hoàng P tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine.

Lời khai nhận tội của bị cáo về hành vi sử dụng trái phép ma túy phù hợp với lời khai các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã tác động xấu đến tình hình trật tự trị an của địa phương. Về mặt chủ quan, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội do vậy cần phải xử lý nghiêm hành vi này bằng chế tài hình sự để cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự do đó Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định hình phạt với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Không có

Xử lý vật chứng của vụ án:

Thống nhất đề nghị của Viện kiểm sát không đặt ra xem xét giải quyết

Về trách nhiệm dân sự:

Thống nhất đề nghị của Viện kiểm sát, không đặt ra xem xét giải quyết

Ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Trần Hoàng P phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố:

Bị cáo Trần Hoàng P phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Trần Hoàng P 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 30/9/2025

2/ Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Đ1 a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, nộp, giảm và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Hoàng P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Hoàng P có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ