- Tranh chấp gì? "Trần Thị N"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 20/QĐ-TA | Phú Thọ, ngày 05 tháng 8 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Phạm Thị Ngọc Phượng
2. Thư ký phiên họp: Ông Vũ Văn Tiệp
Ngày 05 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số: 20/QĐ - TA ngày 30 tháng 7 năm 2026 đối với:
Trần Thị N, sinh năm 1994; số CCCD: 026194001095; trú tại: Thôn L, xã V, tỉnh Phú Thọ; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn S và bà Đường Thị X; tiền án: Không;
Tiền sự: 01;
Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12/QĐ-XPHC ngày 12 tháng 01 năm 2026 của Công an xã V, tỉnh Phú Thọ Trần Thị N bị xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Nhân thân: Tại Bản án số 95/2020/HS-ST ngày 04/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, Trần Thị N bị xử 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Trần Thị N vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hoàng Minh Khanh, Trưởng Công an xã V, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Chinh, Phó Trưởng Công an xã V, tỉnh Phú Thọ.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Trần Thị N bị Công an xã V, tỉnh Phú Thọ đề nghị Tòa án xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc với lý do sau:
Trần Thị N nghiện ma túy từ năm 2011. Ngày 12/01/2026, N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng. Ngày 12/01/2026, Chủ tịch UBND xã V ban hành Quyết định số 71/QĐ-UBNĐ áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Trần Thị N thời hạn 01 năm kể từ ngày 05/01/2026 đến ngày 05/01/2027. Trong quá trình theo dõi ngày 23/7/2026, Công an xã V triệu tập và tiến hành test ma túy đối với N kết quả: Trần Thị N dương tính với chất ma túy trong cơ thể.
Theo biên bản sự việc của Công an xã V và các bản tường trình cùng ngày 23/7/2026, N trình bày: Ngày 20/7/2027, N đi đến khu vực trợ đầu mối thuộc xã V, tỉnh Phú Thọ tìm gặp và mua được của một nam giới không biết tên tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng, sau đó cất giấu trên người đi về nhà. Đến buổi tối cùng ngày thì ra khu vực cánh đồng thôn L, xã V rồi sử dụng bằng hình thức hút vào cơ thể.
Cùng ngày 23/7/2026, Công an xã V đã có văn bản đề nghị Trạm y tế xã V xác định tình trạng nghiện ma túy của Trần Thị N. Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế xã V ngày 23/7/2026 kết luận: Trần Thị N nghiện ma túy, loại ma túy Methamphetamine. N đã được nhận phiếu kết quả, xác định là đúng và không có ý kiến thắc mắc gì. Sau khi khi được thông báo kết xác định tình trạng nghiện ma túy, Trần Thị N được giải thích về việc điều trị Methadone hoặc tham gia các chương trình cai nghiện tự nguyện trong thời hạn 24 giờ. Tuy nhiên, Trần Thị N không thực hiện thủ tục đăng ký trong thời hạn 24 giờ; Trần Thị N có nguyện vọng cai nghiện tại cơ sở cai nghiện công lập với lý do Trần Thị N nghiện ma túy lâu năm không thể tự cai nghiện ma túy được. Ngày 23/7/2026, Công an xã V ra thông báo về việc lập hồ sơ cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị N. Trần Thị N đã được đọc hồ sơ và nhất trí không có ý kiến gì. Trên cơ sở kết quả xác minh Ủy ban nhân dân xã V có Quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và lập hồ sơ đề nghị đưa Trần Thị N vào cơ sở cai nghiện công lập. Trong quá trình lập hồ sơ nhằm ngăn chặn việc N tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã V đã có Quyết định số 78/QĐ-CAX ngày 23/7/2026 về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc bàn giao N cho Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 tỉnh Phú Thọ quản lý kể từ ngày 23/7/2026 cho đến thời điểm người có thẩm quyền đưa đối tượng đi áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định của Tòa án. Ngày 29/7/2026, Công an xã V có văn bản số 26/ĐN-CAX về việc đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị N.
Tại phiên họp, đại diện Công an xã V đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị N thời gian 24 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã đảm bảo đầy đủ trình tự, thủ tục và đúng quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 10; khoản 2 Điều 95; khoản 1 Điều 96; khoản 2 Điều 105; khoản 1, 2 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2026; khoản 1 Điều 29, khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống ma túy năm 2025; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại tòa án nhân dân được sửa đổi bổ sung năm 2026; Nghị định số 163/2026/NĐ-CP của Chính phủ: Đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị N với thời hạn 24 tháng.
Người bị đề nghị vắng mặt nên không có ý kiến gì.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, của Kiểm sát viên thấy rằng:
Trần Thị N vắng mặt tại phiên họp nhưng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 20 của Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6, Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi bổ sung năm 2026 và quy định tại các Điều 100, 101, 102 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP của Chính phủ; Thông tư liên tịch số 03/2026/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2026 của Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Về hồ sơ đề nghị: Công an xã V có văn bản đề nghị đưa đối tượng Trần Thị N vào cơ sở cai nghiện là có căn cứ, bản thân N là đối tượng nghiện chất ma túy trong nhiều năm chưa từ bỏ được chất ma túy, đến ngày 20/7/2026 tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã V phát hiện lập biên bản, sau đó từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện. Bởi vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 29, khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống ma túy, khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105, khoản 1 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung bổ sung năm 2026 và Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị N.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình lập hồ sơ xác định Trần Thị N đã thành khẩn khai báo, có mong muốn cai nghiện ma túy nên được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2026.
Về tình tiết tăng nặng: Ngày 12 tháng 01 năm 2026 N tiếp tục bị Công an xã V xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” nên lần vi phạm này xác định là tái phạm. N phải chịu 01 tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2026.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của N đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc sử dụng các chất ma tuý, gây hiểm họa cho toàn xã hội nói chung và gây tác hại cho sức khoẻ, phẩm giá cũng như phá hoại hạnh phúc, tài sản của đối tượng và gia đình nói riêng. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị N với thời hạn theo như đề nghị của Công an xã V và Viện kiểm sát là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 10; khoản 2 Điều 95; khoản 1 Điều 96; khoản 2 Điều 105; khoản 1, 2 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2026;
Căn cứ khoản 1 Điều 29, khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống ma túy năm 2025;
Căn cứ Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại tòa án nhân dân được sửa đổi bổ sung năm 2026;
Căn cứ Nghị định số 163/2026/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị N.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày Trần Thị N được giao quản lý trong thời gian lập hồ sơ (ngày 23/7/2026).
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ có quyền kháng nghị, Công an xã V có quyền kiến nghị. Người bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an xã V, cơ sở cai nghiện ma túy công lập và Trần Thị N có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Giám đốc Công an tỉnh Phú Thọ; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10; - Công an xã V; - UBND xã V; - Cơ sở cai nghiện ma túy công lập; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Phạm Thị Ngọc Phượng |