- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nghiêm Thị Ánh T, Hoàng Thị Kim N - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nghiêm Thị Ánh T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6- LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2026/HSST. Ngày 29/01/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hằng
Bà Nguyễn Thị Kim Khuyên
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Hồng Quân- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6- Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trung Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6- Lào Cai tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 05/2026/TLST- HS ngày 09 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2026/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 01 năm 2026 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nghiêm Thị Ánh T; Giới tính: Nữ ; Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 10/02/1972 tại thành phố Hà Nội.
Nơi cư trú: Tổ 01 C , phường L, tỉnh Lào Cai.
Nơi ở: Tổ 33 C, phường L tỉnh Lào Cai
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông Nghiêm Trọng C và bà Phạm Thị Q (đều đã chết); chồng Nguyễn Hữu T(đã chết); chồng thứ hai Nguyễn Huy T(đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1997; Bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2002, bị Công an thị xã Cam Đường, tỉnh Lào Cai xử phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản; Năm 2003, bị Công an tỉnh Lào Cai xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi tổ chức đánh bạc; Năm 2004 bị Công an phường Cốc Lếu, thị xã Lào Cai xử phạt cảnh cáo về hành vi đánh nhau gây mất trật tự; Năm 2005 bị Phòng Cảnh sát về trật tự xã hội Công an tỉnh Lào Cai xử phạt 500.000 đồng về hành vi đánh bạc; Năm 2021 bị Công an thành phố Lào Cai xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành xong được xóa tiền sự. Năm 2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng) xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán người, bị cáo chấp hành xong ngày 29/4/2020, tính đến ngày phạm tội đã được xóa án tích; Tiền án: Không; Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lào Cai- Có mặt
2. Họ và tên: Hoàng Thị Kim N; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 05/8/1992 tại tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Tổ 09 Kim Tân, phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông Hoàng Mạnh Hà(đã chết) và bà Phạm Thị Thúy N, sinh năm 1970, trú tổ 09 K, phường L; chồng Nguyễn Văn D, sinh năm 1992 trú tại thôn N, xã P, tỉnh Lào Cai; có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án: Không; Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lào Cai- có mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Thuý Nga; địa chỉ: Tổ 09 Kim Tân, phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai- Có mặt
NỘI DỤNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 03/10/2025, bị cáo Hoàng Thị Kim N đã gọi cho bị cáo Nghiêm Thị Ánh T, vào số 0775877626 của bị cáo T để hỏi mua ma túy. Bị cáo Tđồng ý và yêu cầu bị cáo N chuyển tiền trước, bị cáo N sử dụng số tài khoản số 9979605892 tại N hàng Vietcombank mang tên Hoàng Thị Kim N chuyển số tiền 1.500.000 đồng vào tài khoản số 102622266699 tại N hàng Vietcombank mang tên Nghiêm Thị Ánh T. Sau khi chuyển tiền xong bị cáo Hoàng Thị Kim N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24P6 – 4636 đến phía sau số nhà 163 đường Trần Đăng Ninh, tổ 33 Cốc Lếu, phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai và gọi bị cáo T. Do đã thỏa thuận từ trước nghe thấy bị cáo N gọi, bị cáo Tđã ném từ trong nhà qua tường bao sau nhà ra ngoài 01 gói gấy bên trong có 01 gói nilon bên trong có chứa 05 viên ma túy“Hồng phiến” Methamphetamine và 01 gói nilon chứa ma túy “đá” Methamphetamine cho N. Nhận được ma túy bị cáo Hoàng Thị Kim N cất giấu vào túi áo chống nắng bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi N đi đến khu vực tổ 19 Kim Tân, phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai thì bị Cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ cùng toàn bộ tang vật. Ngoài ra, còn tạm giữ của bị cáo Hoàng Thị Kim N 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Airblade màu đỏ - đen – bạc, biển kiểm soát 24P6 – 4636, số khung RLHJF1808AY392273, số máy JF27E – 00442922 xe đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG S22 Ultra, số IMEI 0350962376667439 bên trong có gắn thẻ sim có dãy số 89840200010912960820 điện thoại cũ đã qua sử dụng. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo Hoàng Thị Kim N tại tổ 9 Kim Tân, phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Căn cứ lời khai của bị cáo Hoàng Thị Kim N ngày 04/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo Nghiêm Thị Ánh T tại số nhà 133 đường Trần Đăng Ninh, tổ 33 Cốc Lếu, phường Lào Cai. Quá trình khám xét thu giữ 10 túi nilon có mép miết bên trong mỗi túi đều chứa hạt tinh thể màu trắng, 01 túi nilon có mép miết bên trong chứa 03 viên nén màu đỏ bị cáo Nghiêm Thị Ánh T khai nhận là ma túy đá và ma túy hồng phiến cất giấu với mục đích bán kiếm lời. Ngoài ra, còn tạm giữ của bị cáo Nghiêm Thị Ánh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE Iphone 16 Promax – 256G, số IMEI: 35730961458225, bên trong có gắn thẻ sim FPT có dãy số 8401250612084064 điện thoại đã qua sử dụng.
Nguồn gốc số ma túy bị cáo Nghiêm Thị Ánh T khai nhận: Khoảng đầu tháng 9 năm 2025, qua mạng xã hội Viber Tcó nói chuyện và quen một người nam giới không rõ tên tuổi địa chỉ. Qua nói chuyện biết người này mua được ma túy nên bị cáo Tđã nhờ mua 1.500.000 đồng tiền ma túy đá và 10 viên ma túy hồng phiến với giá 300.000 đồng. Cả hai thống nhất cho ma túy vào bánh trung thu rồi thông qua đơn vị giao hàng để vận chuyển với hình thức (giao hàng thu tiền hộ). Sau khi nhận được ma túy bị cáo T thanh toán cho nhân viên giao hàng 1.800.000 đồng, nhận được ma túy T chia ma túy đá vào 15 túi nilon có mép miết, 10 viên ma túy hồng phiến vào một túi nhỏ để sử dụng dần, Tđã sử dụng hết 04 gói ma túy đã và 02 viên ma túy hồng phiến. Đến ngày 03/10/2025, bị cáo Nghiêm Thị Ánh T đã bán cho bị cáo Hoàng Thị Kim N 01 gói ma túy đã và 05 viên ma túy hồng phiến với giá tiền 1.500.000 đồng thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ.
Ngày 03/10/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai quyết định trưng cầu giám định số C682 ngày 03/10/2025 đối với chất ma túy thu giữ của bị cáo Hoàng Thị Kim N.
Tại biên bản mở niêm phong, trích mẫu giao nhận đối tượng giám định ngày 03/10/2025 xác định: 01 gói nilon có mép miết bên trong chứa các viên nén màu hồng, hình trụ tròn trên mặt mỗi viên có dập chìm chữ “WY” có khối lượng 0,508 gam ký hiệu mẫu M1, trích 0,197 gam còn lại 0,311 gam hoàn lại Cơ quan trưng cầu, 01 túi nilon có mép miết bên trong chứa hạt tinh thể màu trắng vón cục có khối lượng 0,305 ký hiệu M2, trích 0,067gam còn lại 0,238gam hoàn lại Cơ quan trưng cầu. Tổng M1 và M2 là 0,813 gam.
Ngày 04/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Quyết định trưng cầu giám định số C684 ngày 04/10/2025 đối với chất ma túy thu giữ của bị cáo Nghiêm Thị Ánh T.
Tại biên bản mở niêm phong, trích mẫu giao nhận đối tượng giám định ngày 04/10/2025 xác định: 10 túi nilon có mép miết bên trong chưa hạt tinh thể rắn màu trắng ký hiệu từ M1 đến M10; 01 túi nilon có mép miết bên trong có các viên nén hình trụ tròn có đặc điểm giống nhau trên một mặt mỗi viên đều dập chìm ký hiệu “WY” ký hiệu M11 có khối lượng lần lượt là:
Ký hiệu mẫu
Khối lượng mẫu Trích mẫu (gam) Hoàn lại CQTC
(gam)
(gam)
M1
0,365
0,044
0,321
M2
0,148
0,036
0,112
M3
0,358
0,047
0,311
M4
0,163
0,031
0,132
M5
0,128
0,034
0,094
M6
0,152
0,042
0,110
M7
0,127
0,025
0,102
M8
0,172
0,028
0,144
M9
0,165
0,020
0,145
M10
0,165
0,022
0,143
M11
0,306
0,061
0,245
Tổng
2,249
0,39
1,859
Tại bản kết luận giám định số 652 ngày 08/10/2025, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 01 gói nilon có mép miết bên trong chứa các viên nén màu hồng, hình trụ tròn trên mặt mỗi viên có dập chìm chữ “WY” có khối lượng 0,508 gam ký hiệu mẫu M1, 01 túi nilon có mép miết bên trong chứa hạt tinh thể màu trắng vón cục có khối lượng 0,305gam. Tổng khối lượng mẫu M1, M2 thu giữ của bị cáo Hoàng Thị Kim N là 0,813(Không phẩy tám trăm mười ba) gam là chất ma túy Methamphetamine.
Tại bản kết luận giám định số 653 ngày 08/10/2025, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: các mẫu M1 đến M11 thu giữ của bị cáo Nghiêm Thị Ánh T có khối lượng 2,249(Hai phẩy, hai trăm bốn mươi chín) gam đều là chất ma túy Methamphetamine
Cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 08/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Lào Cai đã truy tố bị cáo Nghiêm Thị Ánh T về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Hoàng Thị Kim N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Lào Cai giữ quyền công tố luận tội: Các bị cáo Nghiêm Thị Ánh T và Hoàng Thị Kim N là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết xã hội, pháp luật. Do hám lợi bị cáo Nghiêm Thị Ánh T đã mua 3,062(Ba phẩy không trăm sáu mươi hai) gam ma túy Methamphetamine với giá tiền 1.800.000 đồng với mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 03/10/2025, tại số nhà 163 đường Trần Đăng Ninh, tổ 33 Cốc Lếu, phường Lào Cai, bị cáo Nghiêm Thị Ánh T đã bán cho bi cáo Hoàng Thị Kim N 1.500.000 đồng 02(hai) gói ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,813(Không phẩy tám trăm mười mươi ba) gam mục đích sử dụng cho bản thân. Vì vậy, bị cáo Nghiêm Thị Ánh T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng là 3,062(Ba phẩy không trăm sáu mươi hai) gam. Bị cáo Hoàng Thị Kim N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,813(Không phẩy tám trăm mười mươi ba) gam. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nghiêm Thị Ánh T về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Hoàng Thị Kim N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nghiêm Thị Ánh T từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Kim N từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 1,859(Một phẩy tám trăm năm mươi chín) gam chất ma tuý Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của bị cáo Nghiêm Thị Ánh T được tái niêm phong vào bì thư in sẵn và 0,549(Không phẩy một lăm mươi lăm) gam chất ma tuý Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định, 02 túi nilon màu trắng có mét miết thu giữ của bị có Hoàng Thị Kim N và vỏ bì thư niêm phong ban đầu được tái niêm phong vào bì thư in sẵn.
Tịch thu 01(một) điện thoại di động, nhãn hiệu APPLEI Iphone 16 Promax- 25G, số IMEI 35730961458225, bên trong gắn thẻ sim FPT có dãy số 8401250612084064, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nghiêm Thị Ánh T và 01(một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, số IMEI0350962376667439, bên trong gắn thẻ sim có dãy số 89840200010912960820, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Hoàng Thị Kim N, không có mật khẩu đăng nhập vào máy, không kiểm tra chi tiết máy bên trong để sung vào N sách Nhà nước
Truy thu để tịch thu số tiền 1.500.000đ(Một triệu năm trăm nghìn đồng) của bị cáo Nghiêm Thị Ánh T do phạm tội mà có để sung vào N sách Nhà nước.
Trả cho bà Phạm Thị Thuý Nga 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Airblade màu đỏ-đen- bạc, Biển kiểm soát 24P6- 4636, số khung RLHJF1808AY392273, số máy JF27E- 0442922, dung tích xi lanh 108cm3, xe đã qua sử dụng. Ngoài ra, tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyèn lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thuý Nga đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bà 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Airblade màu đỏ-đen- bạc, Biển kiểm soát 24P6- 4636, số khung RLHJF1808AY392273, số máy JF27E-0442922, dung tích xi lanh 108cm3, xe đã qua sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều thực hiện hợp pháp.
Hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nghiêm Thị Ánh T và Hoàng Thị Kim N khai nhận: Khoảng đầu tháng 9 năm 2025, qua mạng xã hội Viber bị cáo T có nói chuyện và quen một người nam giới không quen biết. Qua nói chuyện biết người này mua được ma túy nên bị cáo Tđã nhờ mua 1.800.000đ(Một triệu tám trăm nghìn đồng) được 3,062(Ba phẩy không trăm sáu mươi hai) gam ma túy Methamphetamine với mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Đến ngày 03/10/2025 bị cáo Hoàng Thị Kim N đã mua của bị cáo Nghiêm Thị Ánh T 1.500.000đ(Một triệu năm trăm nghìn đồng) được 0,813(Không phẩy tám trăm mười mươi ba) gam ma túy Methamphetamine mục đích để sử dụng. Các bị cáo đã bị Cơ quan Công an kiểm tra, khám xét và bị bắt giữ cùng toàn bộ tang vật.
Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nghiêm Thị Ánh T đã có hành vi mua bán trái phép 3,062(Ba phẩy không trăm sáu mươi hai) gam ma túy Methamphetamine mục đích để sử dụng và bán kiếm lời; Bị cáo Hoàng Thị Kim N đã có hành vi tàng trữ 0,813(Không phẩy tám trăm mười mươi ba) ma túy Methamphetamine với mục đích sử dụng nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma túy bị thu giữ. Hành vi của bị cáo Nghiêm Thị Ánh T đã cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý”.Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; Hành vi của bị cáo Hoàng Thị Kim N đã cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự
Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng. Vì vậy, phải xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi bị bắt, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà các bị cáo được hưởng. Ngoài ra, bị cáo Hoàng Thị Kim N có mẹ đẻ được Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Giáo dục tặng Bằng khen nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét về nhân thân: Bị cáo Nghiêm Thị Ánh T có nhân thân xấu: Năm 2002, bị Công an thị xã Cam Đường, tỉnh Lào Cai xử phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản; Năm 2003, bị Công an tỉnh Lào Cai xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi tổ chức đánh bạc; Năm 2004 bị Công an phường Cốc Lếu, thị xã Lào Cai xử phạt cảnh cáo về hành vi đánh nhau gây mất trật tự; Năm 2005 bị Phòng Cảnh sát về trật tự xã hội Công an tỉnh Lào Cai xử phạt 500.000 đồng về hành vi đánh bạc; Năm 2021 bị Công an thành phố Lào Cai xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành xong được xóa tiền sự. Năm 2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng) xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán người, bị cáo chấp hành xong ngày 29/4/2020, tính đến ngày phạm tội đã được xóa án tích.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có công việc ổn định, không có khả năng kinh tế để thi hành án, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Số vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định:1,859(Một phẩy tám trăm năm mươi chín)gam chất ma tuý Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của bị cáo Nghiêm Thị Ánh T và 0,549(Không phẩy một lăm mươi lăm) gam chất ma tuý Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định, 02 túi nilon màu trắng có mét miết và vỏ bì thư niêm phong ban đầu được tái niêm phong thu giữ của bị cáo Hoàng Thị Kim N và 01(một) điện thoại di động, nhãn hiệu APPLEI Iphone 16 Promax- 25G, số IMEI 35730961458225, bên trong gắn thẻ sim FPT có dãy số 8401250612084064, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nghiêm Thị Ánh T và 01(một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, số IMEI0350962376667439, bên trong gắn thẻ sim có dãy số 89840200010912960820, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Hoàng Thị Kim N. Đây là chất ma túy nhà nước cấm lưu hành, là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ và sung vào N sách nhà nước là phù hợp với điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Đối với 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Airblade màu đỏ-đen-bạc, Biển kiểm soát 24P6- 4636, số khung RLHJF1808AY392273, số máy JF27E-0442922, dung tích xi lanh 108cm3, xe đã qua sử dụng thu giữa của bị cáo N khi bị bắt. Xác định đây là tài sản của bà Phạm Thị Thuý Nga không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Thị Kim N nên cần trả lại cho bà Nga là phù hợp với điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Đối với số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) của bị cáo Nghiêm Thị Ánh T bán ma tuý cho bị cáo Hoàng Thị Kim N ngày 03/10/2025. Xác định đây là số tiền do bị cáo Tphạm tội mà có, nên cần truy thu số tiền này để sung vào N sách Nhà nước là phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với người nam giới không quen biêt mà bị cáo Nghiêm Thị Ánh T khai nhận đã bán ma túy cho bị cáo vào khoảng đầu tháng 9 năm 2025 qua mạng xã hội Viber. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh. Ngoài lời khai của bị cáo Cơ quan điều tra không có tài liệu nào khác để chứng minh nên không đủ căn cứ xử lý trong vụ án. Đối với người giao hàng hộp bánh trung thu bên trong có chứa ma túy. Quá trình điều tra bị cáo Nghiêm Thị Ánh T khai nhận không biết tiên, tuổi địa chỉ người giao hàng, đơn vị vận chuyển. Việc mua bán trái phép chất ma túy người vận chuyển không biết, không liên quan nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trong vụ án.
Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” bị cáo Nghiêm Thị Ánh T khai nhận sau khi mua được ma túy đều lấy một ít ra sử dụng, kết quả xét nghiệm bị cáo dương tính với chất ma túy. Bị cáo Hoàng Thị Kim N khai nhận trước đó có sử dụng ma túy Methamphetamine bằng hình thức hút, kết quả xét nghiệm bị cáo dương tính với chất ma túy. Hành vi của các bị cáo không cấu thành tội "Sử dụng trái phép chất ma túy" quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự nhưng vi phạm các quy định về phòng, chống và kiểm soát ma tuý theo khoản 1 điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Ngày 19/9/2025, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Lào Cai đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền mỗi bị cáo 1.500.000 đồng là phù hợp Ngày 26/01/2026 mỗi bị cáo đã nộp phạt xong số tiền 1.500.000đ(Một triệu năm trăm nghìn đồng)
Về án phí: Do các bị cáo bị kết án, nên mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nghiêm Thị Ánh T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Kim N phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
2. Về mức phạt:
Xử phạt bị cáo Nghiêm Thị Ánh T 04 (bốn) năm 06(sáu) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chấy ma tuý". Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 04/10/2025
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Kim N 03(ba) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 03/10/2025
3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 1,859(Một phẩy tám trăm năm mươi chín) gam chất ma tuý Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của bị cáo Nghiêm Thị Ánh T được tái niêm phong vào bì thue in sẵn. Trên một mặt có ghi dòng chữ:" Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Nghiêm Thị Ánh T tại số nhà 163 đường Trần Đăng Ninh, tổ 33 Cốc Lếu, phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai ngày 04/10/2025" và 0,549(Không phẩy một lăm mươi lăm) gam chất ma tuý Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định, 02(hai) túi nilon màu trắng có mét miết thu giữ của bị cáo Hoàng Thị Kim N và vỏ bì thư niêm phong ban đầu được tái niêm phong vào bì thư in sẵn. Trên một mặt có ghi dòng chữ:" Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Thị Kim N tại tổ 19 Kim Tân, phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai ngày 03/10/2025"
Tịch thu 01(một) điện thoại di động, nhãn hiệu APPLEI Iphone 16 Promax- 25G, số IMEI 35730961458225, bên trong gắn thẻ sim FPT có dãy số 8401250612084064, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nghiêm Thị Ánh T và 01(một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, số IMEI0350962376667439, bên trong gắn thẻ sim có dãy số 89840200010912960820, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Hoàng Thị Kim N, không có mật khẩu đăng nhập vào máy, không kiểm tra chi tiết máy bên trong để sung vào N sách Nhà nước.
Truy thu để tịch thu số tiền 1.500.000đ( Một triệu năm trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có của bị cáo Nghiêm Thị Ánh T để sung vào N sách Nhà nước.
Trả cho bà Phạm Thị Thuý Nga 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Airblade màu đỏ-đen- bạc, Biển kiểm soát 24P6- 4636, số khung RLHJF1808AY392273, số máy JF27E- 0442922, dung tích xi lanh 108cm3, xe đã qua sử dụng (Vật chứng được thể hiện theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/01/2026).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nghiêm Thị Ánh T, Hoàng Thị Kim N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, điều 7, 7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lào Cai (1); - TAND tỉnh Lào Cai (1); - VKSND Khu vực 6- LC(1); - Trại tam giam số 1 CA tỉnh Lào Cai(1); - Cơ quan CSĐT CA tỉnh LC (1); - Phòng PV06 Công an tỉnh LC (1); - Phòng THADSKV6- Lào Cai (1); - Bị cáo (2); - HS THA HS (2); - Lưu văn phòng (1); - Lưu hồ sơ (1). CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | ( Đã ký) Nguyễn Thị Thuý Hằng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Hằng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Hằng |