vanban.org

Bản án 20/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bùi Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bùi Văn D 60 (sáu mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2025. 3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,068g mẫu ma tuý, loại heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau khi giám định. (vật chứng trên đang lưu giữ tại Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ, có đặc điểm theo biên bản giao nh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn D - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bùi Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20 /2026/HSST
Ngày: 06 / 02 / 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nghiêm Hoài Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga và bà Nguyễn Thị Hồng Minh

Thư ký phiên toà: Ông Ninh Viết Tùng – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12–Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2025/HSST ngày 26 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 đối với:

Bị cáo Bùi Văn D, giới tính: Nam; sinh ngày 12/4/1990 tại Phú Thọ; CCCD số: 017090005573; nơi cư trú: xóm G, xã T, tỉnh Phú Thọ; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Bùi Văn B (đã chết) và bà Đinh Thị X; có vợ là Bùi Thị M và 2 con (lớn 14 tuổi, nhỏ 11 tuổi).

Tiền sự: Không; có 02 tiền án: ngày 29/9/2020 bị TAND huyện Cao Phong xử phạt 14 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; ngày 02/3/2023 bị TAND huyện Cao Phong xử phạt 28 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 03/9/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 03- Công an tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 03/9/2025, khi Bùi Văn D đang ở nhà thì có Bùi Văn Xuân là em họ đến chơi. Sau đó D nhờ Xuân chở đến khu vực Trung tâm kiểm soát bệnh tật tại phường Hoà Bình, tỉnh Phú Thọ để đi việc cá nhân. Đến nơi, D bảo Xuân đi đâu đó khoảng 10 phút sau thì quay lại đón D. D đi bộ xung quanh khu vực Trung tâm kiểm soát bệnh tật thì gặp một người đàn ông không quen biết và mua được của người này 300.000 đồng tiền ma tuý. Có được ma tuý, D cho vào chiếc khẩu trang rồi cất vào túi quần phía sau đang mặc. Khoảng 10 phút sau Xuân quay lại và đón D về nhà, trên đường về đến khu vực đèn đỏ trên đường An Dương Vương thuộc tổ 6, phường Thái Bình cũ thì bị tổ công tác Công an phường Thống Nhất kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Bùi Văn D có hành vi cất giấu 01 gói ma tuý trong túi quần đang mặc. Kết luận số 1.837/KL-KTHS ngày 10/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì niêm phong...gửi giám định có khối lượng 0,133g, là ma túy, loại heroine”. Cáo trạng số 32/CT-VKS-KV12 ngày 26/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ truy tố Bùi Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm o khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38, điều 47 BLHS; điều 106 BLTTHS để xử phạt Bùi Văn D từ 60 tháng đến 66 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tuyên tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi mà bị cáo đã thực hiện: Tại phiên toà, Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của Bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, được làm rõ tại phiên toà do đó có căn cứ xác định: Khoảng 18 giờ 15 phút, ngày 03/9/2025, bị cáo có hành vi mua, cất giấu trái phép 0,133g heroine nhằm mục đích để sử dụng cho cá nhân.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua, tàng trữ chất ma tuý để sử dụng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do coi thường pháp luật, với mục đích thoả mãn nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền quản lý về ma túy của nhà nước, là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác.

Bị cáo đã có 02 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý do đó lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân người phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS, được áp dụng khi lượng hình.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Với tính chất và mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và nhân thân của bị cáo, cần có mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Về xử lý vật chứng:

Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông bị cáo khai là người bán ma tuý, cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không làm rõ được và không đề nghị xử lý nên Toà không giải quyết trong vụ án này.

Đối với Bùi Văn Xuân là người chở D đi mua ma tuý nhưng không được biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo do đó không có căn cứ để xử lý.

Khi bị bắt và kiểm tra, bị cáo D có kết quả dương tính với ma tuý tuy nhiên hành vi này của bị cáo không đủ yếu tố cấu thành tội sử dụng trái phép chất ma tuý, bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm o khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38; điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố: Bùi Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Xử phạt: Bùi Văn D 60 (sáu mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2025. 3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,068g mẫu ma tuý, loại heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau khi giám định. (vật chứng trên đang lưu giữ tại Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ, có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng số 27/BB-GNVC ngày 22/01/2026 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12) 4. Về án phí: Bùi Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ