- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/11/2025.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2026/HS-ST Ngày 30-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Diên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vi Văn Tiệp.
2. Ông Hồ Văn Hào.
- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Thủy - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8
- Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hồng Lĩnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 12/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2026/QĐXXST-HS ngày 17/3/2026, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Minh T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 29 tháng 8 năm 1998, tại xã K, tỉnh Hà Tĩnh; số CCCD 042098008582; Nơi cư trú: Thôn K, xã K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T1, sinh năm 1963, con bà Lê Thị S, sinh năm 1973; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/12/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An) xử phạt 17 (mười bảy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo bản án số 77/2022/HS-ST, chấp hành xong bản án ngày 13/11/2023; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2025 đến nay (có mặt).
2. Họ và tên: Lê Xuân H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 23 tháng 02 năm 1995, tại phường T, tỉnh Nghệ An; số CCCD 040095025784; Nơi cư trú: K Chế Biến L, phường T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân T2, sinh năm 1966, con bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1967; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2025 đến nay (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Sầm Thị Hương G, sinh năm 2004.
Nơi cư trú: Xóm Y, xã Q, tỉnh Nghệ An (có mặt).
- Người làm chứng: Ông Lê Xuân T2, sinh năm 1966.
Nơi cư trú: Khối Chế Biến L, phường T, tỉnh Nghệ An (có mặt).
- Người chứng kiến: Bà Thái Thị H1, sinh năm 1978.
Nơi cư trú: Khối Chế Biến L, phường T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 22/11/2025, Lê Xuân H sử dụng điện thoại di động, gọi điện qua ứng dụng Messenger tên “Lê Hiếu” liên lạc với Nguyễn Minh T qua ứng dụng Messenger tên “Minh T” để hỏi mua ma túy về sử dụng thì T đồng ý bán cho H 10 viên ma túy hồng phiến với số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Lúc này T tìm và nhặt được ở bên lề đường một hộp giấy bánh đậu xanh màu vàng đỏ và bỏ vào trong hộp 10 viên ma túy hồng phiến để đưa đi bán cho H. Sau đó, Nguyễn Minh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển kiểm soát 37AS-032.78 chở Sầm Thị Hương G, T nói với G là “Ta đi dạo tí rồi về”. Khi đi qua cổng nhà Lê Xuân H tại khối Chế biến Lâm sản C, phường T, tỉnh Nghệ An, T đi chậm lại rồi dùng tay trái ném hộp giấy bánh đậu xanh, bên trong có chứa 10 viên ma túy hồng phiến xuống đoạn đường trước nhà H. Khi ném xong, T tiếp tục điều khiển xe đi qua cổng nhà H rồi quay đầu xe lại, sử dụng điện thoại di động chụp ảnh vị trí nơi T vứt ma túy, rồi vẽ vòng tròn màu trắng vào vị trí mà T ném ma túy rồi gửi ảnh cho H qua ứng dụng Messenger đồng thời gọi điện thoại nói cho H biết ma túy ở trong hộp, chỗ khoanh tròn màu trắng. Sau đó, H đi bộ ra đoạn đường trước cổng nhà mình kiểm tra thì thấy có một hộp bánh đậu xanh màu vàng đỏ, bên trong có chứa 10 viên ma túy hồng phiến. Biết đó là ma túy do T bán cho mình nên H đã đưa về nhà cất giấu và sử dụng dần. Đến tối ngày 23/11/2025, Lê Xuân H lấy 3 viên ma túy hồng phiến ra sử dụng, còn 7 viên ma túy còn lại H gói vào trong một tờ giấy ăn màu trắng và cất giấu ở thành đầu giường phòng ngủ của H. Hộp giấy bánh đậu xanh H dùng tay vò lại, nhét ở mép bờ tường phía sau phòng ngủ của mình. Đến khoảng 11 giờ 05 phút ngày 24/11/2025, khi H đang ở nhà thì bị Công an phường T kiểm tra nên H đã tự nguyện chỉ vị trí trên thành cửa sổ phòng ngủ của H cất giấu một gói giấy màu trắng, bên trong có chứa 07 viên ma túy hồng phiến, hình dạng không xác định. Đồng thời, H giao nộp các dụng cụ sử dụng ma túy gồm một ống nhựa hình trụ tròn màu xám, dài 17cm, đường kính 02cm, một đầu ống hở, một đầu được bịt kín, trên thân ống có một lỗ thủng từ ngoài vào trong ruột ống, vị trí lỗ thủng cách đầu bịt kín của ống 06cm; một bật lửa màu xanh; một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57 màu đen.
Ngày 24/11/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Minh T. Qua khám xét khẩn cấp, Cơ quan điều tra đã thu giữ của T một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14, màu đen.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Minh T khai nhận: Vào khoảng đầu tháng 11 năm 2025, T đón xe khách từ phường T lên xã T, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy. Tại đây, T gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua được 14 viên ma túy hồng phiến với số tiền 1.000.000 đồng. T đưa số ma tuý mua được về nhà cất giấu. Ngày 21/11/2025, T mang 04 viên ma tuý hồng phiến đến khu vực Nghĩa trang Đ thuộc khối T, phường T, tỉnh Nghệ An sử dụng. Số ma túy hồng phiến còn lại, T mang theo người, tối ngày 22/11/2025 khi Lê Xuân H hỏi mua thì T đã bán cho H 10 viên ma tuý hồng phiến với giá 1.000.000 đồng. H chưa kịp thanh toán số tiền này cho Nguyễn Minh T thì bị phát hiện.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập hồi 14 giờ 30 phút ngày 24/11/2025 của cơ quan CSĐT Công an tỉnh N xác định: 07 (bảy) viên nén màu hồng, hình dạng không xác định thu giữ của Lê Xuân H có khối lượng là 0,48 gam (không phẩy bốn mươi tám gam) sau khi loại bỏ bao bì.
Tại Kết luận giám định số 546/KL-KTHS(Đ2- MT) ngày 30/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lê Xuân H gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng thu giữ của Lê Xuân H có tổng khối lượng là 0,48 gam (không phẩy bốn mươi tám gam).
Tại Cáo trạng số 40/CT-VKSKV8 ngày 11 tháng 02 năm 2026, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An đã truy tố Nguyễn Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 - Bộ luật Hình sự; truy tố Lê Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 38 (ba mươi tám) đến 40 (bốn mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/11/2025. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
Xử phạt bị cáo Lê Xuân H từ 36 (ba mươi sáu) đến 38 (ba mươi tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/11/2025. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự:
Tuyên tịch thu, hóa giá nộp ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14, màu đen, số IMEI: 357504145043683, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Minh T; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, màu đen, số IMEI1: 86094061354077; IMEI 2: 860974061354069 thu giữ của Lê Xuân H.
Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (một) Bật lửa màu xanh, kích thước (08x2,5x01cm); 01 (một) Ống nhựa hình trụ tròn màu xám, kích thước dài 17cm, đường kính 02cm, một đầu ống hở, một đầu được bịt kín, trên thân ống có một lỗ thùng từ ngoài vào trong ruột ống, vị trí lỗ thủng cách đầu bịt kín của ống 06cm; 01 (một) hộp giấy bánh đậu xanh màu vàng đỏ, tình trạng bị vò rách, hình dạng không xác định; 01 (một) phong bì thư bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín bên trong có chứa 02 viên ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 0,13 gam, đều thu giữ của Lê Xuân H (số ma túy còn lại đã sử dụng hết trong quá trình giám định).
Vật chứng khác Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu đúng quy định nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
Biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự: Truy thu từ bị cáo Lê Xuân H số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để để nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo luật định.
Các bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 11 giờ 20 phút, ngày 24/11/2025, tại Công an phường T, tỉnh Nghệ An cùng vật chứng thu giữ được. Lời khai nhận tội của các bị cáo còn phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra và phù hợp các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa, từ đó đã xác định được: Vào khoảng 23 giờ ngày 22/11/2025, tại cổng nhà ở của Lê Xuân H ở khối Chế Biến L, phường T, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Minh T đã có hành vi bán 07 viên ma túy hồng phiến (Methamphetamine) có tổng khối lượng 0,48 gam (không phẩy bốn mươi tám gam) cho Lê Xuân H để sử dụng với số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251
- Bộ luật Hình sự (đã được sửa đổi bổ sung năm 2025). Hành vi của bị cáo Lê Xuân H đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật Hình sự (đã được sửa đổi bổ sung năm 2025) như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây tác hại cho sức khỏe của con người, phá hoại hạnh phúc gia đình và là nguyên nhân gây ra nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý là bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nhưng với mục đích kiếm lời và để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần xét xử nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ của từng hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo thấy rằng:
Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng nhưng bị cáo T có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo T không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân lại tiếp tục phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt.
Tuy nhiên cũng cần xem xét cho các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Mặt khác bị cáo T có bố đẻ là ông Nguyễn Đình T1 được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công; bị cáo H sau khi bị bắt đã cung cấp thông tin về hành vi phạm tội và nơi ở của Nguyễn Minh T giúp Cơ quan CSĐT bắt giữ T và bị cáo có bố đẻ là ông Lê Xuân T2 được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công và Huy chương chiến sĩ vẻ vang. Do đó cần cho bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật Hình sự; bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 - Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của từng bị cáo gây ra, kết hợp việc xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điểu kiện cải tạo, giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho tất cả các bị cáo.
Vật chứng vụ án gồm: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14, màu đen, số IMEI: 357504145043683, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Minh T. Xét đây là vật chứng do bị cáo sử dụng làm phương tiện liên lạc phạm tội nên cần tịch thu, hóa giá nộp ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, màu đen, số IMEI1: 86094061354077; IMEI 2: 860974061354069, đã bị hư hỏng, không lên màn hình, không sử dụng được, thu giữ của Lê Xuân H; 01 (một) Bật lửa màu xanh, kích thước (08x2,5x01cm); 01 (một) Ống nhựa hình trụ tròn màu xám, kích thước dài 17cm, đường kính 02cm, một đầu ống hở, một đầu được bịt kín, trên thân ống có một lỗ thùng từ ngoài vào trong ruột ống, vị trí lỗ thủng cách đầu bịt kín của ống 06cm; 01 (một) hộp giấy bánh đậu xanh màu vàng đỏ, tình trạng bị vò rách, hình dạng không xác định; 01 (một) phong bì thư bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín bên trong có chứa 02 viên ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 0,13 gam đều thu giữ của Lê Xuân H (số ma túy còn lại đã sử dụng hết trong quá trình giám định). Xét đây là vật chứng nhà nước cấm tàng trữ và vật chứng không còn giá trị sử dụng, không sử dụng được nên cần tịch thu, tiêu hủy theo các điểm a, c khoản 2 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự.
Đối với 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda số loại Vision, màu đen, BKS 37AS-032.78 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 37 00020434, là tài sản hợp pháp của chị Sầm Thị Hương G. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định chị G không biết việc T sử dụng chiếc xe mô tô này để đi bán ma túy. Ngày 25/12/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã trả lại chiếc xe mô tô này cho chị Sầm Thị Hương G và chị G không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định được bị cáo T bán trái phép chất ma túy cho bị cáo H thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) nhưng bị cáo H chưa trả tiền cho bị cáo T. Do đó cần truy thu từ bị cáo H số tiền trên để nộp ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 2 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo T, H, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định các bị cáo không nằm trong diện quản lý về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 256a, Bộ luật Hình sự nên Công an phường T đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Minh T vào đầu tháng 11/2025 tại khu vực xã T, tỉnh Nghệ An: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa không xác định được lai lịch cụ thể của người đàn ông này, do đó không đủ căn cứ để xử lý theo quy định.
Đối với Sầm Thị Hương G là người đi cùng với Nguyễn Minh T vào tối ngày 22/11/2025. Tuy nhiên, G không biết việc T bán ma túy cho Lê Xuân H. Do đó, không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với G.
Về án phí: Buộc tất cả các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật Hình sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2025):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/11/2025. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật Hình sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2025):
Xử phạt bị cáo Lê Xuân H 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/11/2025. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự; các điểm a, c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự:
Tịch thu, hóa giá nộp ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14, màu đen, số IMEI: 357504145043683, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Minh T.
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, màu đen, số IMEI1: 86094061354077; IMEI 2: 860974061354069, đã bị hư hỏng, không lên màn hình, không sử dụng được; 01 (một) Bật lửa màu xanh, kích thước (08x2,5x01cm); 01 (một) Ống nhựa hình trụ tròn màu xám, kích thước dài 17cm, đường kính 02cm, một đầu ống hở, một đầu được bịt kín, trên thân ống có một lỗ thùng từ ngoài vào trong ruột ống, vị trí lỗ thủng cách đầu bịt kín của ống 06cm; 01 (một) hộp giấy bánh đậu xanh màu vàng đỏ, tình trạng bị vò rách, hình dạng không xác định; 01 (một) phong bì thư bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín bên trong có chứa 02 viên ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 0,13 gam, đều thu giữ của Lê Xuân H (số ma túy còn lại đã sử dụng hết trong quá trình giám định).
Toàn bộ tang vật trên hiện có tại Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 01 năm 2026 giữa Công an tỉnh N và Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự: Truy thu từ bị cáo Lê Xuân H số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 - Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo Nguyễn Minh T, Lê Xuân H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm trực tuyến, tất cả các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - Người có QL & NV liên quan; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND khu vực 8 - Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Công an tỉnh Nghệ An; - Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An; - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú; - Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Văn Diên |