vanban.org

Bản án 20/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Việt H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị đơn dân sự, buộc Lê Việt H trả cho Công ty TNHH Vận tải Hồng Phú Gia số tiền 75…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lê Việt H vi phạm quy định về tham gia giao thông đường - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - KHÁNH HÒA
TỈNH KHÁNH HÒA
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2026/HS-ST
Ngày 18-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thắng Anh Minh - Nguyên bí thư huyện Đoàn D K.

Ông Đinh Gia Bảo - Nguyên Trưởng phòng giáo dục và đào tạo huyện D K.

- Thư ký phiên tòa: Võ Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2026, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2026/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2026/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

LLê Việt H, sinh năm 1984 tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn T L, xã T N H, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1 (sinh năm 1960) và bà Nguyễn Thị Bích Th (sinh năm 1962); vợ: Huỳnh Thị Ngọc Ph (đã ly hôn) và có 02 người con: lớn sinh năm 2012 và nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Em Lê Ngọc Vân A, sinh ngày 20/5/2008

Người đại diện hợp pháp của em Lê Ngọc Vân A: Ông Lê Thanh Nh, sinh năm 1985 và bà Huỳnh Thảo V, sinh năm 1990 (cha mẹ ruột).

Cùng địa chỉ: Thôn L N, xã D T, tỉnh Khánh Hòa.

Đều vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Vận tải Hồng Phú Gia

Người đại diện hợp pháp của công ty: Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1981 - Giám đốc công ty.

Địa chỉ: Thôn T H, xã C L, tỉnh Khánh Hòa.

Bà T có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Thanh Á, sinh năm 1953

Địa chỉ: Thôn L N, xã D T, tỉnh Khánh Hòa.

Ông Á có mặt tại phiên tòa (có đơn xin vắng mặt).

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Xuân L, sinh năm 1985

Địa chỉ: Thôn P B 2, xã C L, tỉnh Khánh Hòa.

Ông L vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

LLê Việt H (có giấy phép lái xe hạng FC do Sở giao thông vận tải tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 13/4/2022 có giá trị đến 13/4/2027) là nhân viên lái xe của Công ty TNHH Vận tải Hồng Phú Gia, có trụ sở tại xã C L, tỉnh Khánh Hòa, do bà Nguyễn Thị Hồng T làm giám đốc.

Khoảng 11 giờ ngày 26/4/2025, theo sự điều động của công ty TNHH Vận tải Hồng Phú Gia, LLê Việt H điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 79H - 020.31, kéo sơ mi rơ moóc biển số 79R - 011.93 đi từ xã C L, tỉnh Khánh Hòa đến xã D T, tỉnh Khánh Hòa để nhận và chở đá đi thành phố Hồ Chí Minh, trên xe có anh Nguyễn Xuân L là phụ xe, ngồi ở ghế phụ bên phải. Khoảng 12 giờ 45 phút, Hòa điều khiển xe ô tô rẽ từ Quốc lộ 27C vào Hương lộ 62. Khi đi đến đoạn Km 03 + 200 đường Hương Lộ 62, thuộc thôn C S, xã D T, tỉnh Khánh Hòa (đây là đoạn đường trải nhựa phẳng, cong bên phải, tầm nhìn phía trước bị hạn chế, ở giữa có vạch sơn kẻ đường màu vàng liền nét phân chia phần đường thành hai chiều riêng biệt), H điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 79H - 020.31, kéo sơ mi rơ moóc biển số 79R - 011.93 vận tốc khoảng 40 - 45km/h, đi lấn sang phần đường ngược chiều khoảng 0.5 mét. Lúc này, Lê Ngọc Vân A điều khiển xe mô tô biển số 79D1 - 918.34 (xe của ông Lê Thanh Á) lưu hành trên đường Hương lộ 62 theo hướng ngược chiều đi đúng phần đường quy định, đâm vào góc trái đầu xe ô tô đầu kéo biển số 79H - 020.31, kéo sơ mi rơ moóc biển số 79R - 011.93, gây tai nạn. Hậu quả: Lê Ngọc Vân A bị thương, được người đi đường gọi xe cấp cứu đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa cấp cứu và điều trị đến ngày 13/5/2025 thì xuất viện; xe mô tô biển số 79D1 - 918.34 bị hư hỏng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành thu thập, trích xuất dữ liệu camera trên xe ô tô đầu kéo 79H-020.31 kết quả phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện cũng như lời khai của những người có liên quan về diễn biến vụ tai nạn.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 243/25/KLTTCT-PYKH ngày 16/5/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Ngọc Vân A là 69%.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 04/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D K, tỉnh Khánh Hòa kết luận: 01 mô tô biển số 79D1- 918.34 bị hư hỏng thiệt hại 14.962.500 đồng; 01 xe ô tô đầu kéo biển số 79H - 020.31 bị hư hỏng thiệt hại 10.040.000 đồng.

- Về vật chứng của vụ án:

01 xe ô tô đầu kéo biển số 79H - 020.31; 01 sơ mi rơ moóc biển số 79R - 011.93; 01 giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc biển số 79R - 011.93; 01 giấy chứng nhận kiểm định số EB 1094758, biển số đăng ký 79H - 020.31 và 01 giấy chứng nhận kiểm định số EB 0774787, biển số đăng ký 79R – 011.93 đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng T là giám đốc Công ty TNHH Vận tải Hồng Phú Gia.

01 xe mô tô biển số 79D1 - 918.34 đã lại cho ông Lê Thanh Á.

01 bản chính giấy phép lái xe hạng FC, số 560134008470 mang tên LLê Việt H. (Kèm hồ sơ vụ án)

01 đĩa CD lưu dữ liệu camera hành trình phía trước đầu xe ô tô đầu kéo biển số 79H - 020.31, kéo sơ mi rơ moóc biển số 79R – 011.93 (Kèm hồ sơ vụ án)

- Về phần dân sự:

Bà Nguyễn Thị Hồng T - Giám đốc Công ty TNHH Vận tải Hồng Phú Gia đã bồi thường, hỗ trợ cho gia đình Lê Ngọc Vân A số tiền 150.000.000 đồng. Lê Ngọc Vân A và đại diện gia đình không có yêu cầu gì thêm về dân sự.

Bà Nguyễn Thị Hồng T yêu cầu bị cáo LLê Việt H trả lại cho Công ty TNHH Vận tải Hồng Phú Gia số tiền 75.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 24/CT-VKSKV3 ngày 31/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Khánh Hòa truy tố bị cáo LLê Việt H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Việt H. Đề nghị xử phạt: Lê Việt H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét, giải quyết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh Á đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét, giải quyết. Đại diện bị đơn dân sự Công ty TNHH Vận tải Hồng Gia Phú yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 75.000.00 đồng đã bồi thường, bị cáo đồng ý theo yêu cầu của đại diện Công ty. Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị đơn dân sự: Buộc Lê Việt H trả cho Công ty TNHH Vận tải Hồng Gia Phú số tiền 75.000.000 đồng. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 bản chính giấy phép lái xe hạng FC, số 560134008470 mang tên Lê Việt H (trong hồ sơ vụ án). Về án phí: Bị cáo Lê Việt H nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

- Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát khu vực 3 - Khánh Hòa, không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

- Ý kiến của đại diện bị đơn dân sự: Xác định Công ty đã bồi thường số tiền 150.000.000 đồng cho gia đình bị hại (cả bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 75.000.000 đồng trong số tiền 150.000.000 đồng mà công ty đã bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Khánh Hòa, Kiểm sát viên: Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt. Tại hồ sơ đã có đầy đủ lời khai, việc vắng mặt nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 và 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.

[3] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đủ căn cứ để xác định: Khoảng 12 giờ 55 phút ngày 26/4/2025, Lê Việt H có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 79H - 020.31, kéo sơ mi rơ moóc biển số 79R - 011.93, khi đi đến đoạn Km 3 + 200 đường Hương lộ 62 (thôn C S, xã D T, tỉnh Khánh Hòa), H điều khiển xe đi lấn sang phần đường ngược chiều khoảng 0.5 mét, làm góc bên trái đầu xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 79H - 020.31, đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 79D1 - 918.34 do em Lê Ngọc Vân A điều khiển lưu hành theo hướng ngược chiều đi đúng phần đường quy định, gây tai nạn. Hậu quả: Em Lê Ngọc Vân A bị thương tật 69%, xe mô tô biển số 79D1 - 918.34 bị hư hỏng thiệt hại 14.962.500 đồng. Bị cáo đã khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra công khai tại phiên tòa, cho thấy bản cáo trạng số 24/CT-VKSKV3 ngày 31/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Khánh Hòa đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật; đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lê Việt H đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

[4] Xét hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gây ra thiệt hại sức khỏe của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Bởi lẽ phương tiện giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ đòi hỏi mọi người khi tham gia giao thông phải nghiêm chỉnh chấp hành nhưng bị cáo lại tham gia giao thông không tuân thủ quy định của pháp luật về an toàn giao thông đường bộ khi điều khiển xe đi lấn sang phần đường ngược chiều, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 10 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; được bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, cần xem xét các tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại hồ sơ thể hiện bị đơn dân sự đã tự nguyện bồi thường cho bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền là 150.000.000 đồng; bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét, giải quyết. Tại phiên tòa, đại diện bị đơn dân sự yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 75.000.000 đồng trong số tiền 150.000.000 đồng mà công ty đã bồi thường, bị cáo đồng ý trả lại số tiền này. Do đó, ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị đơn dân sự, buộc Lê Việt H trả cho Công ty TNHH Vận tải Hồng Phú Gia số tiền 75.000.000 đồng.

[6] Về vật chứng: Đối với tài sản đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp thì Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Trả lại cho bị cáo 01 bản chính giấy phép lái xe hạng FC, số 560134008470 mang tên Lê Việt H.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (75.000.000 đồng x 5%).

[8] Về vấn đề khác:

Đối với Lê Ngọc Vân A: Điều kiển xe mô tô biển kiểm soát 79D1 - 918.34 đi đúng phần đường quy định, không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông trên; tuy nhiên, Lê Ngọc Vân A không có giấy phép lái xe theo quy định, Cơ quan điều tra đã có Công văn chuyển hồ sơ đề nghị phòng Cảnh sát giao thông công an tỉnh Khánh Hòa xem xét xử lý theo quy định là phù hợp.

Đối với ông Lê Thanh Á là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 79D1 - 918.34, ngày 26/4/2025, ông Ái không biết việc Lê Ngọc Vân A tự ý lấy mô tô của ông Á điều khiển đi và xảy ra tai nạn. Do đó, không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông Lê Thanh Á về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 264 Bộ luật Hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điểm b khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

- Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Điều 600 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt: Bị cáo Lê Việt H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị đơn dân sự, buộc Lê Việt H trả cho Công ty TNHH Vận tải Hồng Phú Gia số tiền 75.000.000 đồng.

3. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Lê Việt H 01 bản chính giấy phép lái xe hạng FC, số 560134008470 mang tên Lê Việt H (có tại hồ sơ vụ án).

4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền và nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị đơn dân sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ