vanban.org

Bản án 20/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tấn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Tấn V 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 7 năm 2025. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tấn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2026/HS-ST
Ngày: 06 - 02 -2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Khanh

Bà Đoàn Thị Mến

- Thư ký phiên tòa:

Ông Bùi Văn Hiếu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Minh Nguyệt.

Ngày 06 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2026/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2026 đối với:

Bị cáo: Trần Tấn V; Giới tính: Nam; Sinh năm 1999, tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Công nhân. Hộ khẩu thường trú: khu phố phước Hiệp, phường Tân Hải, Thành phố Hồ Chí Minh. Bố: Trần Tấn H (đã chết); Mẹ: Trần Thị M (đã chết). Bị cáo là con út trong gia đình có ba chị em. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án:

- Ngày 12/4/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 30/4/2020 chấp hành xong hình phạt chính. Chưa được xóa án tích.

- Ngày 29/10/2021, bị Tòa án nhân dân Thành phố Bà Rịa xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 09/02/2023 chấp hành xong hình phạt chính. Chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 06/6/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 10/8/2017 chấp hành xong bản án.

- Ngày 07/7/2023, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đến ngày 07/12/2024 thì chấp hành xong, đang là đối tượng quản lý sau cai theo Quyết định số 11/QĐ-UBND ngày 13/12/2024 của Ủy ban nhân dân xã Tân Hòa.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Ngãi Giao thuộc Trại tạm giam số 1 – Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Bùi B, sinh năm 1959; địa chỉ: Ấp Tân Ninh, xã Châu Pha, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

2/ Ông Bùi Thái L, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp Hồng Lan, xã Ngãi Giao, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người chứng kiến: Ông Nguyễn S, sinh năm 1970; địa chỉ: Ấp Hồng Lan, xã Ngãi Giao, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ 00 ngày 15/7/2025, Tổ Công tác 363 số 35 Công an thành phố Hồ Chí Minh đang tiến hành tuần tra trên tuyến đường Hoàng Hoa Thám thuộc khu phố Hồng Lan, xã Ngãi Giao, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện Trần Tấn V đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số: 51M1-1779 biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Do không xuất trình được các loại giấy tờ tùy thân nên cơ quan Công an mời đối tượng về trụ sở Công an xã Ngãi Giao, Thành phố Hồ Chí Minh để làm việc. Qua làm việc cơ quan Công an phát hiện trong túi phía trước bên phải của chiếc quần jean V đang mặc trên người có 01 gói thuốc lá nhãn hiệu “SAIGON Silver”, bên trong gói thuốc có chứa 01 bọc nylong dạng túi zip có chứa chất tinh thể màu trắng (V khai nhận đây là bọc nylong chứa ma túy loại Methamphetamine). Quá trình điều tra, Trần Tấn V khai nhận như sau:

Trần Tấn V bắt đầu sử dụng ma túy từ khoảng năm 2017, hình thức sử dụng là hút ma túy tổng hợp (dạng đá). Vào lúc 20 giờ 40 phút ngày 15/7/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Trần Tuấn V sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno2F, màu trắng có tài khoản Zalo tên “V Trần” liên hệ với tài khoản Zalo tên “Thuyphung” của bà Nguyễn Thị Thúy Ph (sinh ngày 09/11/1992, HKTT: Tổ 8, khu phố 16, phường Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh) mua 1.000.000 đồng ma túy dạng đá. V khai nhận Ph gửi số tài khoản 901299870 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (gọi tắt là Ngân hàng VIB) cho V chuyển tiền mua ma túy. V liên hệ Phạm Quốc C (sinh năm 28/12/1985; trú tại ấp Tân Lợi, phường Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp) nhờ C chuyển tiền 1.000.000 đồng vào số tài khoản 901299870 mở tại Ngân hàng VIB của Ph. Do không đủ tiền nên C chỉ đồng ý chuyển 600.000 đồng (gồm 500.000 đồng C đã nợ V trước đó, và cho V mượn 100.000 đồng). V nhắn tin cho Ph báo lại chỉ mua 600.000 đồng ma túy thì bà Ph đồng ý. Ph nói V đến khu vực sân bóng gần đường Hồ Quỳnh Vy thuộc phường Tân Hải, Thành phố Hồ Chí Minh) nhận ma túy để bên trong 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Jet.

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 15/7/2025, V điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave, màu sơn xanh, gắn biển số 51M1-1779 đến địa điểm trên thì thấy 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Jet được để ở ven đường, V mở gói thuốc lấy 01 gói nylong, dạng túi zip bên trong chứa chất ma túy dạng đá bỏ vào bao thuốc lá nhãn hiệu “SAIGON Silver” cất vào túi quần Jean phía trước bên phải rồi về xã Ngãi Giao, Thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng. Đến khoảng 22 giờ ngày 15/7/2025, khi đang trên đường về đến đường Hoàng Hoa Thám thuộc ấp Hồng Lan, xã Ngãi Giao, Thành Phố Hồ Chí Minh thì bị Tổ công tác 363 phát hiện như trên.

Ngoài ra, Trần Tuấn V còn khai nhận khoảng cuối tháng 6/2025, Trần Tuấn có sử dụng ma túy đá một mình tại 01 con đường (không nhớ rõ địa chỉ) thuộc phường Tân Hải, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguồn gốc ma túy V sử dụng là mua của một người phụ nữ tên thường gọi “bà Cọp” (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể chỉ biết tại khu vực Bến Đình, Thành phố Vũng Tàu cũ).

Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 16/7/2025, Trần Tấn V dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

Tại Bản Kết luận giám định số: 1068/KL-KTHS-MT, 20/7/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận “Mẫu A có khối lượng 0,3818 gam, là ma túy loại Methamphetamine.”

Tại Bản Kết luận giám định số 4302/KL-KTHS ngày 14/9/2025, giám định đối với xe mô tô không gắn biển số có số máy HC09E0693230, số khung RLHHC09003Y693140 kết luận “Phương tiện cần giám định: Số khung, số máy hiện tại là số nguyên thủy”.

Tại Bản Kết luận giám định số 4252/25/KL-KTHS ngày 12/9/2025 kết luận “Biển số 51M1 – 1779 là biển số giả”.

Xử lý vật chứng:

-01 phong bì niêm phong được đánh số 1068 ngày 22/7/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno2F, màu trắng, số seri EUYLKBZLVSMZTKYD; IMEI 1: 869563046143159; IMEI: 869563046143142 được chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 14, Thành phố Hồ Chí Minh.

- 01 xe máy HC09E0693230, số khung RLHHC09003Y693140 gắn biển số 51M1 – 1779 được bàn giao cho Công an phường Tân Hải, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục điều tra, xử lý vụ “Trộm cắp tài sản” theo yêu cầu phối hợp tại Công văn số 01/CV-PCTP ngày 15/11/2025 của Công an phường Tân Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại bản cáo trạng số: 47/CT-VKS-KV14, ngày 13-01-2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Thành phố Hồ Chí Minh quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 14 – Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử bị cáo Trần Tấn V về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên toà: Giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS do bị cáo không thành thật khai báo ăn năn hối cãi, còn che dấu tội phạm và đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, Điều 38, Điều 50 BLHS đề nghị mức phạt đối với bị cáo Trần Tấn V từ 05 năm đến 05 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong được đánh số 1068 ngày 22/7/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno2F, màu trắng, số seri EUYLKBZLVSMZTKYD; IMEI 1: 869563046143159; IMEI: 869563046143142.

Bị cáo Trần Tấn V nói lời nói sau cùng: Bị cáo V không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố hồ Chí Minh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội: Xét thấy, lời khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo về hành vi phạm tội tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 23 giờ 00 ngày 15/7/2025, tại đường Hoàng Hoa Thám thuộc khu phố Hồng Lan, xã Ngãi Giao, thành phố Hồ Chí Minh, Trần Tấn V tàng trữ trái phép 0,3818 gam ma túy loại Methamphetamine trong túi quần jean đang mặc, mục đích để sử dụng cá nhân thì bị Tổ Công tác 363 số 35 Công an thành phố Hồ Chí Minh phát hiện. Do đó, hành vi của Trần Tấn V cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Trong khi các cơ quan chức năng Nhà nước Việt Nam và toàn nhân dân đang lên án, ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi xã hội, thế nhưng, hành vi của bị cáo thể hiện thái độ xem thường pháp luật, chống đối lại trật tự trị an mà toàn xã hội đang ra sức bảo vệ. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Đối với Nguyễn Thị Thúy Ph, qua xác minh, Cơ quan cảnh sát điều tra xác định Nguyễn Thị Thúy Ph sinh sống cùng với ông Nguyễn Thế D (sinh năm: 30/01/1994; HKTT: khu phố Láng Cát, phường Tân Hải, Thành phố Hồ Chí Minh) tại khu phố Láng Cát, phường Tân Hải, thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên từ khoảng giữa tháng 7 năm 2025 đến nay, bà Ph và ông D không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ. Qua tra cứu thông tin từ dữ liệu dân cư quốc gia và xác minh, bà Nguyễn Thị Thúy Ph có hộ khẩu tại khu phố 16, phường Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, nhưng không sinh sống tại địa phương, gia đình bà Ph đi đâu, làm gì địa phương chưa rõ nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được với Ph. Hơn nữa, theo thông tin sao kê từ số tài khoản 901299870 mở tại Ngân hàng VIB của Ph xác định vào ngày 15/7/2025 không có trường hợp nào chuyển khoản 600.000 đồng như V trình bày. Vì vậy, chưa đủ căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Thị Thúy Ph về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục xác minh, điều tra và xử lý sau theo đúng quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Thế D, quá trình điều tra D xác định không biết việc Ph bán ma túy cho V, bản thân D cũng không tham gia trong việc bán ma túy cho V nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh không đề cập xử lý đối với D là có căn cứ.

Đối với Phạm Quốc C, qua xác minh và tra cứu trên dữ liệu dân cư quốc gia xác định ông Phạm Quốc C, sinh ngày: 28/12/1985; CCCD số: 087085020409 có đăng ký HKTT tại ấp Tân Lợi, phường Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp nhưng vắng mặt và không sinh sống tại địa phương, ông C đi đâu làm gì không rõ. Gia đình ông C đã bán nhà chuyển đi nơi khác sinh sống từ lâu, chưa rõ nơi chuyển đến nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được với C. Qua kiểm tra các tin nhắn Zalo của V, không ghi nhận được nội dung thỏa thuận giữa ông C với V trong việc Mua bán trái phép chất ma túy. Do chưa làm việc được với bà Nguyễn Thị Thúy Ph và ông Phạm Quốc C nên chưa đủ căn cứ xác định vai trò của ông Phạm Quốc C trong vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã tách hành vi của Phạm Quốc C để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý theo quy định.

Bị cáo V khai có mua ma tuý của đối tượng tên “Bà Cọp” 2 lần, lần gần nhất là khoảng cuối tháng 6 năm 2025 tại khu vực Bến Đình, (thành phố Vũng Tàu cũ) nhưng quá trình điều tra tại và tại phiên toà bị cáo không cung cấp địa chỉ và thông tin nào khác nên không làm rõ được đối tượng này; đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau đối với đối tượng “Bà Cọp” theo đúng quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, Trần Tấn V đang là đối tượng quản lý sau cai. Tại phiếu kết quả kiểm tra ma túy trong cơ thể ngày 16/7/2025, V dương tính với ma túy loại Methamphetame nhưng V khai nhận lần cuối cùng sử dụng ma túy là cuối tháng 6/2025 (tức trước ngày Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 có hiệu lực (ngày 01/7/2025). Do đó, hành vi của Trần Tấn V không bị Cơ quan Cảnh sát điều tra truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 256a Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2025 là có căn cứ.

Ngoài ra, qua xác minh, chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave, màu sơn xanh, gắn biển số 51M1-1779 mà V điều khiển đi mua ma túy là của Bùi Thái L (sinh năm 1985, trú tại Ấp Tân Ninh, xã Châu Pha, Thành phố Hồ Chí Minh) nhưng đã bị mất trộm vào giữa năm 2023 tại phường Tân Hải, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình điều tra mở rộng không xác định được Trần Tấn V liên quan đến việc trộm cắp xe này. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh không đề cập xử lý đối với V về tội “Trộm cắp tài sản” mà bàn giao vật chứng cho Công an phường Tân Hải, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục điều tra, xử lý vụ việc “Trộm cắp tài sản” theo quy định là có căn cứ.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về áp dụng hình phạt:

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ý thức được đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về vật chứng trong vụ án:

- Số ma tuý còn lại đựng trong 01 phong bì niêm phong được đánh số 1068 ngày 22/7/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno2F, màu trắng, số seri EUYLKBZLVSMZTKYD; IMEI 1: 869563046143159; IMEI: 869563046143142 bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Một xe máy HC09E0693230, số khung RLHHC09003Y693140 gắn biển số 51M1 – 1779 được bàn giao cho Công an phường Tân Hải, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục điều tra, xử lý vụ “Trộm cắp tài sản” theo yêu cầu phối hợp tại Công văn số 01/CV-PCTP ngày 15/11/2025 của Công an phường Tân Hải, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, Điều 38 Bộ luật hình sự:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tấn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Tấn V 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 7 năm 2025.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno2F, màu trắng, số seri EUYLKBZLVSMZTKYD; IMEI 1:869563046143159; IMEI 2: 869563046143142.

- Tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong được đánh số 1068 ngày 22/7/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vật chứng trên hiện đang được cơ quan Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14 Thành phố Hồ Chí Minh quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 70/BB-THADS ngày 15 tháng 01 năm 2026)

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Tấn V phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 311, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình, thời hạn kháng cáo trong 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ