- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "D - L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trần Văn D đối với bà Võ Thị Bé L. Ông Trần Văn D được ly hôn với bà Võ Thị Bé L. Quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Văn D và bà Võ Thị Bé L chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2026/HNGĐ-ST Ngày: 30-01-2026 V/v:“Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - VĨNH LONG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Trúc Giang
2. Bà Nguyễn Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Thi – Kiểm sát viên
Vào ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long, xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 343/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2025/QĐST-DS ngày 24 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2026/QĐST-DS ngày 13 tháng 01 năm 2026 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn D, sinh năm 1977; Số CCCD: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 11/08/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi cư trú: Số C, ấp T, xã P, tỉnh Vĩnh Long. (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Võ Thị Bé L, sinh năm 1984; Số CCCD: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 13/3/2025; Nơi cấp: Bộ C; Nơi cư trú: Số S, ấp T, xã P, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, nguyên đơn trình bày:
Ông D và bà Võ Thị Bé L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã P, tỉnh Vĩnh Long) vào năm 2002. Quá trình chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung. Ông D đã tìm nhiều cách để hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả và hiện đã sống ly thân. Do không còn tình cảm với bà L nên ông D yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông D được ly hôn với bà Võ Thị Bé L, ông D không yêu cầu cấp dưỡng vợ chồng sau khi ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thị Minh T, sinh ngày 04/02/2003 đã trưởng thành; ông Trần Văn D yêu cầu nuôi 01 con chung là Trần Minh K, sinh ngày 07/01/2012, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Võ Thị B Liễu vắng mặt, không có trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trần Văn D đối với bà Võ Thị Bé L. Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thị Minh T, sinh ngày 04/02/2003 đã trưởng thành; ông Trần Văn D được nuôi 01 con chung là Trần Minh K, sinh ngày 07/01/2012, ông D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận; Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Trần Văn D có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bà Võ Thị B Liễu vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông D, bà L là phù hợp với Điều 227; 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Võ Thị Bé L có nơi cư trú tại ấp T, xã P, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long theo quy định tại Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn D và bà Võ Thị Bé L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã P, tỉnh Vĩnh Long) vào năm 2002 là phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Ông D khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà L. Tại biên bản xác minh ngày 19/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long, ông Trần Văn T1 (là hàng xóm với gia đình ông D, bà L) trình bày: Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, bà L nhiều lần gây nợ nần, ông D nhiều lần trả nợ thay cho bà L nhưng bà L không có sự thay đổi. Quá trình giải quyết vụ án, ông D cương quyết yêu cầu ly hôn và có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Bà Võ Thị Bé L vắng mặt trong các phiên hòa giải và tại phiên tòa không có ý kiến trình bày. Điều này cho thấy ông D và bà L đã từ bỏ mối quan hệ hôn nhân này, không thể hiện mong muốn được đoàn tụ vợ chồng, việc hàn gắn tình cảm cho ông D và bà L không có kết quả, mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng của ông D và bà L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông D đối với bà L là phù hợp quy định pháp luật. Ông D tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly hôn nên ghi nhận. Bà L vắng mặt không có lời trình bày về cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly hôn nên không xem xét.
Về con chung: Ông D và bà L có 02 con chung tên Trần Thị Minh T, sinh ngày 04/02/2003 và Trần Minh K, sinh ngày 07/01/2012. Trần Thị Minh T đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Ông Trần Văn D yêu cầu được nuôi Trần Minh K. Xét việc giao con cho ai nuôi cần xem xét mọi mặt về điều kiện vật chất và tinh thần, sự phát triển bình thường của đứa trẻ. Tại biên bản ghi nhận ý kiến con ngày 03/11/2025, Trần Minh K trình bày mong muốn được sống với cha nếu cha mẹ ly hôn. Bản thân ông D có công việc và thu nhập ổn định đảm bảo việc nuôi con. Để đảm bảo việc phát triển bình thường về vật chất, tâm lý và tinh thần cũng như ổn định về điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc cho con chung nên giao con chung Trần Minh K, sinh ngày 07/01/2012 cho ông D tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Ông D tự nguyện không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung nên ghi nhận.
Về tài sản chung: Ông D khai tự thỏa thuận, bà L vắng mặt không có lời trình bày nên không xét đến.
Về nợ chung: Ông D khai không có nên không xét đến; bà L vắng mặt không có lời trình bày nên không xét đến.
Quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông D phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trần Văn D đối với bà Võ Thị Bé L. Ông Trần Văn D được ly hôn với bà Võ Thị Bé L. Quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Văn D và bà Võ Thị Bé L chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ghi nhận ông Trần Văn D, bà Võ Thị Bé L không yêu cầu cấp dưỡng cho vợ chồng sau khi ly hôn.
2. Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thị Minh T, sinh ngày 04/02/2003 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Ông Trần Văn D được nuôi 01 con chung là Trần Minh K, sinh ngày 07/01/2012; bà Võ Thị B Liễu không phải cấp dưỡng nuôi con chung do ông Trần Văn D tự nguyện không yêu cầu.
Bà Võ Thị Bé L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên hoặc cơ quan tổ chức có thẩm quyền có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Ông Trần Văn D khai tự thỏa thuận, bà Võ Thị Bé L vắng mặt không có lời trình bày nên không xét đến.
4. Về nợ chung: Ông Trần Văn D khai không có nên không xét đến; bà Võ Thị Bé L vắng mặt không có lời trình bày nên không xét đến.
5. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Trần Văn D phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai tạm ứng án phí số 0005382 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Ông Trần Văn D đã nộp xong án phí.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - THADS tỉnh Vĩnh Long - VKSND Khu vực 5-Vĩnh Long; - UBND xã Phú Túc; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Minh Hiền |