vanban.org

Bản án 20/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của bà Bùi Thị Thùy D đối với ông Nguyễn Tấn T.

1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Thùy D được ly hôn với ông Nguyễn Tấn T. 2 Về việc nuôi con chung: Các đương sự không có con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Thuỳ D - Nguyễn Tấn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của bà Bùi Thị Thùy D đối với ông Nguyễn Tấn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2026/HNGĐ-ST
Ngày 05/02/2026
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bồ Quốc Khánh.

Ông Đoàn Văn Lước.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại Toà án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 303/2025/TLST-HNGĐ ngày 17/12/2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thùy D, sinh năm 2002; địa chỉ: G ấp H, xã T, tỉnh Cà Mau; CCCD số: xxxxxxxxxxxx. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ A, khu phố F, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh; CCCD số: xxxxxxxxxxxx. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn (bà Bùi Thị Thùy D) trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Thùy D và ông Nguyễn Tấn T là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là UBND phường V, Thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 05/01/2024. Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc, tuy nhiên sau một thời gian hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã, bất đồng quan điểm, mâu thuẩn trở nên đỉnh điểm là bà D phát hiện ông T có mối quan hệ bất chính với người khác. Bà D không cảm thấy hạnh phúc trong cuộc hôn nhân và đã nhiều lần yêu cầu ông T thuận tình ly hôn nhưng ông T không đồng ý, vì vậy bà Bùi Thị Thùy D quyết định đơn phương ly hôn và yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Tấn T.

+ Về con chung: Quá trình chung sống bà D và ông T không có con chung.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn (ông Nguyễn Tấn T): Ông T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chuyển giao tài liệu, chứng cứ nguyên đơn khởi kiện, thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định đưa vụ án ra xét xử, để ông T tham gia tố tụng nhưng ông cố tình vắng mặt mà không có lý do nên Tòa án không thu thập được ý kiến.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu tại phiên tòa:

+ Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đối với vụ án: Trong quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn luật định. Quá trình tố tụng, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và được Hội đồng xét xử chấp nhận là có căn cứ. Bị đơn được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia tố tụng nhưng bị đơn cố tình không đến Tòa án để làm việc là chưa tuân thủ quy định pháp luật. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xác minh thu thập, hòa giải được, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bị đơn có nơi cư trú tại phường V, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phồ Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các thông báo về thụ lý vụ án, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo phiên tòa sơ thẩm nhưng cố tình vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tấn T và bà Bùi Thị Thùy D đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là UBND phường V, Thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 05/01/2024. Theo quy định tại các Điều 8 và 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đây là hôn nhân hợp pháp. Bà D yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn ông T với lý do mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Vợ chồng không còn chung sống với nhau đã hơn một năm. Ông T được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án tham gia hòa giải để đoàn tụ. Điều này cho thấy ông T không có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững dựa trên tình cảm của vợ chồng, sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau giữa vợ và chồng nhưng quan hệ hôn nhân của ông bà đã không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà D có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Các đương sự không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Bùi Thị Thùy D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của bà Bùi Thị Thùy D đối với ông Nguyễn Tấn T.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Thùy D được ly hôn với ông Nguyễn Tấn T.

1.2 Về việc nuôi con chung: Các đương sự không có con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

1.3 Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Bùi Thị Thùy D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0047799 ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ