- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2025/HSST Ngày: 20/01/2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN – TỈNH BẮC KẠN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Khiếu.
Ông Ngô Thế Uy.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Thêu - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2025/HSST ngày 03/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Hoàng Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 03/11/1996 tại tỉnh B; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã H, huyện Ng, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T1 và bà Đàm Thị Nh; vợ con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Tại bản án số 18/HSST ngày 10/7/2014 của Tòa án nhân dân huyện Ng, tỉnh B xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/8/2024 cho đến nay. Hiện nay đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1962; nghề nghiệp: Lao động tự do; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú nơi và chỗ ở: Thôn L, xã H, huyện Ng, tỉnh B. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 00 giờ 30 phút ngày 18/8/2024, tại đoạn đường Quốc lộ 3 thuộc tổ Gi, phường H1, thành phố B1, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B bắt quả tang Hoàng Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết quả kiểm tra đã phát hiện và tạm giữ: Tại nắp bình ắc quy trong cốp xe môtô biển kiểm soát 97B1 – 557.xx do T điều khiển có 01 (một) gói được gói bằng một lớp giấy màu trắng, có viền màu xanh đỏ (giấy phong bì), bên trong có 01 (một) túi nilon trong suốt có viền khóa zip màu đỏ ở miệng túi có chứa chất màu trắng dạng cục và bột (niêm phong trong phong bì ký hiệu L1). Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 557.xx cùng chìa khóa xe.
Cùng ngày, cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Hoàng Văn T. Qua khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Ngày 20/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B đã ra Quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố B để giải quyết theo thẩm quyền.
Hoàng Văn T khai nhận: Số chất màu trắng dạng cục và bột có trong túi nilon trong suốt có viền khóa zip màu đỏ ở miệng túi cơ quan công an đã thu giữ tại nắp bình ắc quy trong cốp xe môtô biển kiểm soát 97B1 – 557.xx do T điều khiển là ma túy loại Heroine của T tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Về nguồn gốc số ma túy T khai: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 17/8/2024, T điều khiển xe môtô biển kiểm sát 97B1 - 557.xx đi từ nhà T tại thôn L, xã H, huyện Ng đến thành phố B1 để tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, T đi đến khu vực đường Quốc lộ 3, thuộc phường X, thành phố B1, tại đây T gặp một người đàn ông, qua nói chuyện T biết người này tên H và có ma túy bán nên đã hỏi mua 6.000.000đ (sáu triệu đồng) ma túy loại Heroine. Sau khi đưa tiền, T được người đàn ông đưa cho 01 (một) gói được gói bằng một lớp giấy màu trắng, có viền màu xanh đỏ (giấy phong bì), bên trong có 01 (một) túi nilon trong suốt có viền khóa zip màu đỏ ở miệng túi có chứa ma túy. Sau khi nhận ma túy, T dùng tua vít để vặn nắp ắc quy ở trong cốp của xe môtô biển kiểm soát 97B1 - 557.xx và cất giấu gói ma túy vừa mua vào phía dưới nắp ắc quy, rồi đậy nắp và lấy tua vít để vặn ốc nắp ắc quy lại. Sau khi cất giấu ma túy xong, T điều khiển xe môtô đi về nhà, khi đến khu vực tổ Gi, phường H1, thành phố B1 thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý Công an tỉnh B bắt quả tang và thu giữ số ma túy vừa mua được cùng một số đồ vật, tài sản khác.
Tiến hành mở niêm phong và cân xác định số chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu L1 có khối lượng là 9,970g (Chín phẩy chín bảy không gam). Sau khi cân, niêm phong toàn bộ số chất màu trắng dạng cục và bột vào phong bì ký hiệu T1 gửi giám định. Vỏ phong bì ký hiệu L1, lớp giấy, nilon cũ được niêm phong vào phong bì ký hiệu T2 bảo quản theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 282/KL - KTHS ngày 23/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: “ Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu T1 gửi giám định là ma tuý; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NG-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
- Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu T1 có khối lượng là 9,970g (chín phẩy chín bảy không gam)”.
Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu T1 còn lại 9,914g (chín phẩy chín một bốn gam) cùng toàn bộ phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T180 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.
Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSTPBK ngày 03/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B1, tỉnh B đã truy tố đối với Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
…
g) Heroine….có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 đến 07 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 18/8/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T180 và 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T2. Trả lại cho bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen đã qua sử dụng. Tịch thu hóa giá nộp vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE biển kiểm soát 97B1 – 557.xx cùng chìa khóa xe.
Về án phí: Đề nghị miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
* Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là không oan, đúng người, đúng tội và xin hưởng sự khoan hồng của pháp luật, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo thống nhất với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có cơ sở khẳng định:
Hồi 00 giờ 30 phút ngày 18/8/2024, tại đoạn đường Quốc lộ 3 thuộc tổ Gi, phường H, thành phố B1, tỉnh B tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B bắt quả tang Hoàng Văn T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 9,970g (chín phẩy chín bảy không gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo có nhân thân xấu. Tại Bản án số 18/HSST ngày 10/7/2014 của Tòa án nhân dân huyện Ng, tỉnh B đã xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang, do vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
* Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định, thuộc diện hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung "Phạt tiền” theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T180, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Mẫu hoàn trả sau giám định vụ: Hoàng Văn T (1996), tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T2, mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (một) chữ T, 01 (một) dòng chữ Hoàng Văn T và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn. Tất cả không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen, bên trong có lắp 02 (hai) thẻ sim có số thuê bao 1: 0397.368.6xx và số thuê bao 2: 0349.690.2xx, điện thoại có số IMEI1: 862366053246718 và số IMEI2: 862366053246700, điện thoại đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, dung tích 97cm3, màu đen bạc, mang biển kiểm soát 97B1 – 557.xx, có số khung RLHHC1258FY032164 và số máy HC12E7032303 cùng chìa khóa xe, xe mô tô đã qua sử dụng, không có giấy tờ đăng ký liên quan đến xe mô tô. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn T1 đều xác định toàn bộ tiền mua xe là của ông T1 cho bị cáo, đăng ký xe mang tên bị cáo và chiếc xe là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo. Việc bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội ông T1 không biết và không đề nghị bị cáo phải hoàn trả tiền mua xe. Do vậy, cần tịch thu hóa giá nộp vào Nhà nước toàn bộ chiếc xe.
* Trong vụ án này còn có người đàn ông tên H đã bán ma túy cho Hoàng Văn T, do T không biết họ và địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.
* Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 18/8/2024.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T180, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Mẫu hoàn trả sau giám định vụ: Hoàng Văn T (1996), tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T2, mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (một) chữ T, 01 (một) dòng chữ Hoàng Văn T và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen, bên trong có lắp 02 (hai) thẻ sim có số thuê bao 1: 0397.368.6xx và số thuê bao 2: 0349.690.2xx, điện thoại có số IMEI1: 862366053246718 và số IMEI2: 862366053246700, điện thoại đã qua sử dụng.
- Tịch thu hóa giá nộp vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, dung tích 97cm3, màu đen bạc, mang biển kiểm soát 97B1 – 557.xx, có số khung RLHHC1258FY032164 và số máy HC12E7032303 cùng chìa khóa xe, xe mô tô đã qua sử dụng, không có giấy tờ đăng ký liên quan đến xe mô tô.
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn.
* Về án phí: Áp dụng Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn T.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh ; - VKSND thành phố; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố; - Chi cục THADS thành phố; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Dƣơng |