- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đình D phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Đình D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2025/HSST Ngày: 20/9/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Cấp Cao và ông Bùi Khắc Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Hải – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2025/HSST ngày 09 tháng 9 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 9 năm 2025 với bị cáo:
Họ và tên: Trần Đình D; tên gọi khác: Không; sinh ngày 13/9/1990; tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn E, phường T, tỉnh Đắk Lắk; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Trần Đình P, sinh năm 1962 và bà Trần Thị H, sinh năm 1962; bị cáo có vợ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1993 và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2012 và con nhỏ nhất sinh năm 2022); Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 28/5/2025 – Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Từ Xuân H1 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Từ X: Bà Từ Hoàng Cẩm T, sinh năm 1994 (con của bị hại), địa chỉ: Buôn E, xã B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1962, địa chỉ: Tổ dân phố F, phường T, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Đình D có giấy phép lái xe hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 21/7/2021. Đầu năm 2024, D làm lái xe chở hàng thuê (hợp đồng thuê bằng miệng, tính tiền thuê theo chuyến) cho H3 kinh doanh Sơn H4 do bà Nguyễn Thị Thu H2 làm chủ. Sáng ngày 03/04/2025, D được giao nhiệm vụ điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát: 47H - 021.57 xuất phát từ huyện E, tỉnh Đắk Lắk (cũ) đi tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp) để bốc hàng sắt thép. Khi đi, D gọi thêm anh Tạ Công P1, sinh năm 1992, địa chỉ: Thôn E, xã E, tỉnh Đắk Lăk đi cùng để phụ xe cho D. Khoảng 21 giờ ngày 04/04/2025, sau khi đã bốc 22.700kg sắt thép lên thùng xe tải xong thì D điều khiển chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát: 47H - 021.57, cùng với anh Tạ Công P1 lưu thông từ tỉnh Đồng Tháp về hướng tỉnh Đắk Lắk.
Đến khoảng 7h30 phút ngày 05/4/2025, D điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát: 47H - 021.57 đi đến đoạn Km 1871 + 870m đường H (Quốc lộ A) thuộc địa phận thôn I, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay là thôn I, xã T, tỉnh Lâm Đồng) đây là đoạn đường cong cua và lên và xuống dốc về phía bên phải theo hướng xe đang lưu thông (hướng thành phố G đi huyện Đ), do không chú ý quan sát nên D đã điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 47H - 021.57 đi lấn sang bên phải làn đường dành cho xe hỗn hợp nên xe ô tô tải biển kiểm soát 47H - 021.57 do Trần Đình D điều khiển đã va chạm với chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 60B9
- 050.23 do ông Từ Xuân H1, sinh năm: 1962, địa chỉ: K, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An (nay là phường T, tỉnh Nghệ An) điều khiển lưu thông cùng chiều phía bên phải làn đường dành cho xe hỗn hợp. Hậu quả: Ông Từ Xuân H1 chết, chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát: 47H - 021.57 và chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 60B9 - 050.23 hư hỏng.
+ Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường xảy ra vụ tai nạn tại Km 1871 + 870m đường H thuộc Quốc lộ A, đoạn qua địa phận Thôn I, xã T, tỉnh Lâm Đồng. Đây là đoạn đường hơi cong cua theo hướng từ thành phố G (cũ) đi huyện Đ (cũ), mặt đường được trải bê tông nhựa rộng 11m, hai bên lề đường có hệ thông tường hộ lan bằng kim loại, đường có độ nghiêng dốc thấp dần về hướng huyện Đ (cũ). Ở giữa mặt đường có vạch kẻ sơn màu vàng đứt quãng phân chia mặt đường thành hai phần đường ngược chiều nhau, mỗi phần đường có vạch kẻ sơn màu trắng đứt quãng cách mép đường mỗi bên 2m, phân chia thành 2 làn đường cùng chiều nhau (01 làn đường dành cho xe cơ giới, 01 làn dành cho xe hỗn hợp).
Quá trình khám nghiệm tiến hành lấy mép đường nhựa bên phải theo hướng thành phố G (cũ) đi huyện Đ (cũ) làm mép đường chuẩn, đồng thời là hướng khám nghiệm. Lấy cột mốc ký hiệu số H9 – 1871 trên lề đường cách mép đường bên trái 0,7m làm điểm mốc cố định.
Trên mặt đường tại vị trí cách điểm mốc cố định khoảng cách 26,4m về hướng Bắc phát hiện dấu vết cày dài 2,98m, chỗ rộng nhất 2,5cm, sâu 0,1cm, điểm đầu và điểm cuối của vết cày lần lượt cách mép đường chuẩn khoảng cách 0,7m và 0,35m (vị trí được đánh dấu số (1) trên sơ đồ hiện trường). Cách vị trí số (1) khoảng cách 70m về hướng thành phố G (cũ) có biển báo đường cong cua nguy hiểm.
Cách điểm cuối vết cày (1) khoảng cách 01m về hướng huyện Đ (cũ) phát hiện dấu vết cày đứt quãng trên đường trong kích thước dài 3,17m, sâu 0,2cm, vị trí vết cày rộng nhất là 1,5cm. Điểm đầu và điểm cuối vết cày lần lượt cách mép đường chuẩn 0,75m và 0,24m (vị trí được đánh dấu số (2) trên sơ đồ hiện trường).
Cách điểm cuối vết cày (2) khoảng cách 0,38m về hướng thành phố G (cũ) phát hiện dấu vết cày mặt đường, nền đất dài 2.8m, vị trí rộng nhất 1,5cm, điểm đầu vết cày cách mép đường chuẩn 0,55m và điểm cuối vết cày nằm tiếp giáp mép đường chuẩn (vị trí được đánh dấu số (3) trên sơ đồ hiện trường).
Cách vị trí (3) khoảng cách 0,7m về hướng thành phố G (cũ) phát hiện một số dấu vết chà trượt đứt quãng trên mặt đường trong vùng kích thước (10,4 x 0,35)m, điểm đầu và điểm cuối vết lần lượt cách mép đường chuẩn 0,6m và 0,43m (vị trí được đánh dấu số (4) trên sơ đồ hiện trường).
Tại vị trí tiếp giáp mép đường chuẩn cách điểm đầu vết (4) khoảng cách 1,42m theo hướng huyện Đ (cũ) phát hiện 01 xe mô tô biển kiểm soát 60B9 – 050.23 ở trạng thái nằm đổ nghiêng sang trái, một phần xe bên dưới tường hộ lan, đầu xe quay về hướng thành phố G (cũ), đuôi xe quay về hướng huyện Đ (cũ), trục trước của xe cách mép đường chuẩn 02m, cách đầu vết cày (1) 9,9m, cách điểm mốc cố định 36m; trục sau xe mô tô cách mép đường chuẩn 0,6m về phía nền đất tiếp giáp mép đường chuẩn. Kiểm tra nền đất bên dưới xe mô tô có vết cày nền đất rải rác trong vùng kích thước (1,2 x 1,7)m (vị trí xe mô tô được đánh dấu số (5) trên sơ đồ hiện trường).
Kiểm tra mặt ngoài phần tường hộ lan tiếp giáp mép đường chuẩn phát hiện nhiều dấu vết trượt rải rác kích thước dài 2,45m, rộng nhất 6,5cm, điểm đầu vết cách đầu vết cày (3) khoảng cách 1,1m về hướng huyện Đ (cũ), cách điểm đầu vết chà trượt (4) khoảng cách 1.2m về hướng thành phố G (cũ). Trong các dấu vết trượt có một số dấu vết trượt bám dính tạp chất màu đen. Mặt trong phần tường hộ lan có một số vết trượt xước, mài mòn kim loại rải rác trong vùng kích thước dài 1,3m, rộng nhất 9,5cm, đầu dấu vết cách vết chà trượt (4) là 0,97m, cách trục trước xe mô tô biển kiểm soát 60B9 – 050.23 là 1,3m về hướng thành phố G (được đánh dấu số (6) trên sơ đồ hiện trường).
Cách điểm cuối dấu vết (4) khoảng cách 1,7m theo hướng thành phố G (cũ), vị trí tiếp giáp mép đường chuẩn phát hiện bám dính tạp chất màu nâu đỏ kích thước (32 x 35)cm (được đánh dấu số (7) trên sơ đồ hiện trường).
Mở rộng kiểm tra hiện trường về hướng huyện Đ (cũ) khoảng cách 800m phát hiện 01 xe ô tô tải BKS: 47H – 021.57 đậu trên phần lề đường tiếp giáp mép đường chuẩn, đầu xe quay về hướng huyện Đ (cũ), đuôi xe quay về hướng thành phố G (cũ), trục trước và sau bên trái của xe ô tô lần lượt cách mép đường chuẩn 3.1m và 2.9m, cách cột mốc H9-1870 là 37,4m về hướng đi thành phố G (cũ), trục bánh xe sau cùng bên trái cách mép đường chuẩn là 2,9 m.
Mở rộng khám nghiệm hiện trường, không phát hiện, ghi nhận gì thêm.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được, căn cứ các dấu vết để lại ở hiện trường và trên hai phương tiện xác định xe ô tô tải biển kiểm soát: 47H – 021.57 và xe mô tô biển kiểm soát 60B9 – 050.23. Đoàn khám nghiệm xác định vị trí điểm va chạm trên hiện trường giữa xe ô tô tải biển kiểm soát: 47H – 021.57 và xe mô tô biển kiểm soát 60B9 – 050.23 là khu vực trước điểm đầu dấu vết cày ký hiệu số 1 trên sơ đồ hiện trường, thuộc làn đường xe máy, xe thô sơ, phần đường bên phải theo hướng từ thành phố G (cũ) đi huyện Đ (cũ).
+ Kết quả khám nghiệm các phương tiện:
- Đối với Xe mô tô BKS: 60B9 - 050.23 nhãn hiệu Honda, loại xe WAVE RSX. Tiến hành khám nghiệm phương tiện theo chiều hướng từ sau ra trước, từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, ghi nhận các dấu vết: Gương chiếu hậu bên trái khuyết, mặt ngoài phần trụ kim loại để cố định gương có vết mài mòn, bám dính chất bẩn màu nâu kích thước (1,5 x 0,6)cm, cách mặt đất 1,14m; hệ thống tay lái hai bên bị cong vênh theo hướng từ dưới lên trên lệch 8cm so với vị trí ban đầu; ốp nhựa bên trên phía trước đầu xe bị bể vỡ, đèn chiếu sáng phía trước bung rời khỏi chốt cố định; mặt trước dưới tay phanh bên phải có vết mài mòn kim loại mới kích thước (08 x 0,3)cm, phần đầu của vết cách mặt đất 1,18m; phần đầu trong của tay phanh bên phải có vết gãy kim loại mới kích thước (0,5 x 0,5)cm; cùm hãm mặt dưới tay phanh có vết mài mòn kim loại mới kích thước (3,5 x 0,7)cm, cách mặt đất 1,05m; ốp cao su bọc bên ngoài ống dây ga rách, mài mòn kích thước (2,3 x 0,5)cm, cách mặt đất 0,99m; tay cầm lái bên trái có dấu vết bẩn đất, đuôi tay lái bị đứt gãy phần chui nhựa, cách mặt đất 1,1m; yếm chắn gió phía trước bên phải bể vỡ nhiều mảnh trong vùng kích thước (57x20)cm; yYếm chắn gió phía trước bên trái nứt vỡ, bám dính một số tạp chất màu đen; mặt bên phải lốp xe phía trước tại vị trí dòng chữ “MIG” tiếp giáp với vành bánh xe (niềng) có vết rách, chà mài mòn lốp kích thước (2,5 x 01) cm, phần mép kim loại vành xe bị cong vênh, lõm móp vào trong dài 2,5cm, cách lỗ chân van 9,5cm; mặt bên trái lốp xe phía trước có vết in hằn, chà trượt hình dây cung kích thước dài 37cm; yên xe không thủng rách, trên bề mặt có vết chà trượt, cháy xém, bám tạp chất đất màu nâu theo hướng từ sau ra trước trong vùng kích thước (44 x 31) cm; gác để chân phía trước bên trái cong vênh theo hướng từ dưới lên trên, tại vị trí mặt sau dưới của phần đầu ngoài kim loại gác để chân có vết chà mài mòn với kích thước (1,5 x 1,5) cm; gác để chân phía sau bên trái cong vênh theo hướng từ sau ra trước, đồng thời bị biến dạng, gãy; phần đầu ngoài kim loại gác để chân có vết chà mài mòn kích thước (2,5 x 0,9)cm, mặt đầu ngoài đế cáo su của gác để chân có vết chà trượt kích thước (01 x 3,5)cm, cách mặt đất 34 cm; dè chắn bùn phía sau bên phải bị gãy vỡ kích thước (10 x 4) cm.
+ Đối với Xe ô tô tải BKS: 47H - 021.57:
- Tiến hành khám nghiệm phương tiện theo chiều hướng từ sau ra trước, từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, ghi nhận các dấu vết: Phần đầu bên phụ tại vị trí cản trước của xe có vết trượt xước hình vòng cung theo hướng từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, kích thước (17 x 0,8)cm, điểm đầu của vết cách mặt đất 108cm, điểm cuối cách mặt đất 98cm, cách trục bánh xe phía trước bên phải 123cm; tại vị trí phía dưới cuối cửa xe bên phụ có 01 vết trượt xước kích thước (16 x 0,4)cm, điểm đầu và điểm cuối của vết lần lượt cách mặt đất 94cm và 91cm, cách trục bánh xe phía trước bên phải 87cm. Bên trên vết phát hiện thêm 01 vết trượt xước, bong tróc sơn kích thước (16x2)cm, cách mặt đất 94cm, dấu vết này có chiều hướng phức tạp trên nền vết bám dính bụi bẩn xách định là vết cũ; tại vị trí thùng ống pô phía sau trục bánh xe phía trước bên phải phát hiện 01 vết chà trượt mất bụi còn mới, bán dính ít tạp chất màu đen, chiều hướng từ trước ra sau trên vùng kích thước (12 x 10)cm, cách mặt đất 46cm, cách tâm trục bánh xe phía trước bên phải 1.23m, cách tâm trục bánh xe thứ nhất phía sau bên phải 70cm.
+ Kết luận giám định số 230/KL- KTHS ngày 05/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ (cũ) kết luận: Căn cứ vào dấu vết để lại hiện trường và 02 (hai) phương tiện được mô tả trong hồ sơ gửi giám định, xác định:
1. Xe ô tô tải biển kiểm soát 47H- 021.57 và xe mô tô biển kiểm soát 60B9-050.23 có va chạm với nhau.
2. Vị trí va chạm đầu tiên trên hiện trường giữa xe ô tô tải biển kiểm soát 47H-021.57 và xe mô tô biển kiểm soát 60B9-050.23 là khu vực trước điểm đầu dấu vết cày ký hiệu, đánh số 1 trong sơ đồ hiện trường (được mô tả và ghi nhận trong hồ sơ khám nghiệm hiện trường), thuộc làn đường xe máy, xe thô sơ, phần đường bên phải theo hướng từ thành phố G (cũ) đi huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng).
+ Kết quả giám định an toàn kỹ thuật hệ thống phanh, lái của các xe:
Ngày 07/04/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ (cũ) trưng cầu Sở xây dựng tỉnh Đ (cũ) tiến hành giám định an toàn kỹ thuật hệ thống lái, phanh của xe ô tô liên quan trong vụ tai nạn. Ngày 14/04/2025, Sở xây dựng tỉnh Đ (cũ) ra các quyết định về việc thực hiện giám định tư pháp và phân công tổ giám định an toàn kỹ thuật phương tiện giao thông cơ giới đường bộ theo các quyết định trưng cầu của Cơ quan điều tra. Đến ngày 18/04/2025, Sở xây dựng tỉnh Đ (cũ) có kết luận giám định cụ thể: Tổ giám định không có cơ sở để xác định tình trạng an toàn kỹ thuật hệ thống phanh và hệ thống lái của xe ô tô BKS: 47H – 021.57 tại thời điểm trước khi xảy ra vụ tai nạn giao thông vào ngày 05/04/2025; tình trạng an toàn kỹ thuật hệ thống phanh và hệ thống lái của xe ô tô BKS: 47H – 021.57 tại thời điểm giám định vào ngày 15/04/2025: hệ thống lái hoạt động bình thường, không phát hiện sự cố kỹ thuật, hệ thống phanh: tổ giám định không có cơ sở để kết luận tình trạng an toàn kỹ thuật của hệ thống phanh do không có dụng cụ đo tốc độ xe để hỗ trợ việc kiểm tra phanh trên đường theo quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 122:2024/BGTVT ban hành kèm theo Thông tư số: 48/2024/TT-BGTVT ngày 15/11/2024, có hiệu lực từ ngày 01/01/2025.
+ Kết quả kiểm tra cồn, ma túy: Trần Đình D không có cồn trong hơi thở và âm tính với ma túy.
+ Bản kết luận giám định tử thi số: 84/KLGĐTT-TTPY ngày 08/05/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ (cũ) kết luận:
- Các kết quả chính:
Kết quả khám nghiệm: Bầm tụ máu dưới da, cơ vùng đỉnh thái dương trái; nứt xương hộp sọ vùng thái dương trái; vùng ngực trái biến dạng xẹp, lún vào trong; gãy xương sườn số 3,4,5,6,7,8,9 cung trước bên trái.
Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Định lượng Ethanol (cồn) trong mẫu máu tử thi: 0,1g/l.
Kết luận khác: Không.
Kết luận nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.
+ Bản kết luận định giá tài sản số: 14/KL-HĐĐGTS ngày 30/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ (cũ) kết luận giá trị thiệt hại thành tiền của chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 60B9 - 050.23 là 2.597.000 đồng, giá trị thiệt hại thành tiền của xe ô tô biển kiểm soát: 47H – 021.57 là 1.500.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKS-KV8 ngày 09/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Trần Đình D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng truy tố bị cáo là đúng, không oan.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Đình D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Đình D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Đình D cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đắk Lắk giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Về các biện pháp tư pháp:
+ Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ (cũ) đã trả lại: 01 xe ô tô tải BKS: 47H - 021.57 cho bà Nguyễn Thị Thu H2, là chủ sở hữu hợp pháp.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trả lại: 01 Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ đen, BKS: 60B9 - 050.23 cho chị Từ Hoàng Cẩm T, là người thừa kế tài sản hợp pháp.
Trả lại giấy phép lái xe số 310169857143 mang tên Trần Đình D do Sở G cấp ngày 21/7/2021, cho bị cáo Trần Đình D.
Lưu theo hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Micro XC 128 GB màu đen, bên trong có lưu trữ đoạn video có độ dài 03 phút 09 giây.
+ Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại; bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại 100.000.000 đồng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.
Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình, mà chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 05/04/2025 tại Km 1871 + 870m đường H (Quốc lộ A) thuộc thôn I, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay là thôn I, xã T, tỉnh Lâm Đồng), bị cáo Trần Đình D (có giấy phép lái xe hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 21/7/2021) điều khiển xe ô tô tải mang biển kiểm soát 47H – 021.57 chở 22.700kg sắt thép đi theo hướng phường N, tỉnh Lâm Đồng về xã Đ, tỉnh Lâm Đồng do không chú ý quan sát, lấn sang làn đường bên phải dành cho xe hỗn hợp va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Ware RSX, biển kiểm soát 60B9 - 050.23 do ông Từ Xuân H1 điều khiển lưu thông cùng chiều ở làn đường dành cho xe hỗn hợp. Hậu quả ông H1 tử vong do chấn thương sọ não. Thiệt hại của chiếc xe mô tô BKS: 60B9 – 050.23 là 2.597.000 đồng (Hai triệu năm trăm chín mươi bảy nghìn đồng).
Tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
...”
[3]. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm trọng vànguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tính mạng của người khác và trật tự an toàn giao thông đường bộ. Do việc không chú ý quan sát, lấn sang làn đường bên phải dành cho xe hỗn hợp đã vi phạm điểm c, d khoản 3 Điều 12 và khoản 2 Điều 13 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ. Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Đình D đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4]. Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[4.1]. Về nhân thân. Bị cáo có nhân thân tốt.
[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại cho bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 100.000.000 đồng; người đại diện của bị hại có đơn bãi nại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4.3]. Về tình tiết tăng nặng: Không.
[4.4]. Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, do đó không buộc các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây ảnh hưởng xấu đến đấu tranh phòng, chống tội phạm, mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo, giao cho chính quyền địa phương và gia đình bị cáo phối hợp giám sát, giáo dục, thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của pháp luật.
[5]. Về các biện pháp tư pháp:
[5.1]. Vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ (cũ) đã trả lại: 01 xe ô tô tải BKS: 47H - 021.57 cho bà Nguyễn Thị Thu H2, là chủ sở hữu hợp pháp.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trả lại: 01 Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ đen, BKS: 60B9 - 050.23 cho chị Từ Hoàng Cẩm T, là người thừa kế tài sản hợp pháp của bị hại.
Trả lại giấy phép lái xe số 310169857143 mang tên Trần Đình D do Sở G cấp ngày 21/7/2021, cho bị cáo Trần Đình D.
Lưu theo hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Micro XC 128 GB màu đen, bên trong có lưu trữ đoạn video có độ dài 03 phút 09 giây.
[5.2]. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại và không yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường nên không đặt vấn đề giải quyết.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
[8]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Đình D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Đình D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Đình D cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đắk Lắk giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Các biện pháp tư pháp:
3.1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ (cũ) đã trả lại: 01 xe ô tô tải BKS: 47H - 021.57 cho bà Nguyễn Thị Thu H2, là chủ sở hữu hợp pháp.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trả lại: 01 Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ đen, BKS: 60B9 - 050.23 cho chị Từ Hoàng Cẩm T, là người thừa kế tài sản hợp pháp của bị hại.
Trả lại giấy phép lái xe số 310169857143 mang tên Trần Đình D do Sở G cấp ngày 21/7/2021, cho bị cáo Trần Đình D.
Lưu theo hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Micro XC 128 GB màu đen, bên trong có lưu trữ đoạn video có độ dài 03 phút 09 giây.
3.2. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 100.000.000 đồng; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường thêm nên không đề cập giải quyết.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Trần Đình D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo những nội dung liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND khu vực 8 – Lâm Đồng; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Lâm Đồng; - THADS tinh Lâm Đồng; - Bị cáo, đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Thanh Tâm |