vanban.org

Bản án 20/2025/HS-ST — Hình sự

TAND Thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 16/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Hoàng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Ngô Hoàng P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù, nhưng được trừ các ngày tạm giữ từ ngày 04/01/2025 đến ngày 10/01/2025. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàn trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Hoàng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Tịch thu tiêu hủy; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST
Ngày 16-4-2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ,TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Phương Trang;

2. Ông Trần Duy Hồ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Loan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS, ngày 14 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Ngô Hoàng P, sinh ngày 15/9/1990, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Ngô X (S) M, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965; Anh, chị em ruột: 03 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Vợ, con: Không; Tiền sự: Chưa có; Tiền án: chưa có; Tạm giữ: Từ ngày 04/01/2025 đến ngày 10/01/2025 hủy bỏ biện pháp tạm giữ; Tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người chứng kiến: Huỳnh Văn N, sinh năm 1948 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng: Châu Quốc P1, sinh ngày 01/01/1982 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H,tỉnh Đồng Tháp.

Đang chấp hành án theo Quyết định thi hành án phạt tù số 08/2025/QĐ-CA ngày 19/02/2025 của Toà án nhân dân thành phố Hồng Ngự.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 55 phút, ngày 04 tháng 01 năm 2025 Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố H (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ) phối hợp với Công an phường A thực hiện các biện pháp nghiệp vụ về phòng chống tội phạm về ma tuý, tệ nạn xã hội trên địa bàn, khi đến đường H thuộc khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, phát hiện Ngô Hoàng P có nhiều biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra phát hiện trên tay phải của Ngô Hoàng P đang cầm 01 (một) đoạn ống nhựa màu xanh, sọc trắng, bên trong có chứa các tinh thể rắn màu trắng và được quấn băng keo màu đen bên ngoài, Ngô Hoàng P khai nhận là ma túy đá của người bạn tên Châu Quốc P1 cho để mang về nhà sử dụng, nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt Ngô Hoàng P trong trường hợp phạm tội quả tang cùng tang vật.

Quá trình điều tra, bị cáo Ngô Hoàng P khai nhận trước đó khoảng 10 giờ 40 phút, cùng ngày bị bắt quả tang đi bộ từ nhà đến nhà Châu Quốc P1 ở địa chỉ: khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp để rủ Châu Quốc P1 cùng sử dụng ma túy nhưng Châu Quốc P1 không đồng ý mà đưa cho Ngô Hoàng P khối lượng ma túy trên, khi nhận xong Ngô Hoàng Phong cầm trên tay phải và đi về nhà để sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 22/KL-KTHS, ngày 07/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận như sau: Tinh thể rắn chứa trong 1 đoạn ống nhựa màu xanh sọc trắng, có quấn băng keo màu đen bên ngoài, được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3: 23008160 gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,108 gam, loại Methamphetamine.

Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 07/01/2025 của Trung tâm y tế thành phố H xác định: Ngô Hoàng P có tình trạng nghiện ma túy chất Methamphetamine.

- Vật chứng vụ án, Cơ quan điêu tra đã thu giữ: 01 (một) đoạn ống nhựa màu xanh, sọc trắng có quấn băng keo màu đen bên ngoài, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy, chưa xác định khối lượng, thu giữ của Ngô Hoàng P; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động, thu giữ của Ngô Hoàng P.

Trong quá trình điều tra, Ngô Hoàng P đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số: 14/CT-VKSTPHN, ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Ngô Hoàng P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Ngô Hoàng P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Ngô Hoàng P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Hoàng P mức hình phạt từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề làm thuê, thu nhập không ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với Châu Quốc P1 không thừa nhận việc cho ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất, cả hai bảo vệ lời khai và không có tài liệu chứng cứ khác chứng minh việc cho ma túy, ngoài ra không có chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý hình sự Châu Quốc P1 trong vụ án này.

- Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

+ Tịch thu tiêu hủy: Mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định được dán giấy niêm phong lại ghi “Niêm phong số: 16, ngày 04/01/2025”, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên: Lê Minh V, Nguyễn Phú B và Ngô Hoàng P.

+ Trả lại bị can Ngô Hoàng P: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng hoạt động do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Hoàng P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 04/01/2025 và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Hoàng P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật hình sự, do bị cáo nghiện ma túy và muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, cụ thể: Vào lúc 13 giờ 55 phút, ngày 04 tháng 01 năm 2025, phát hiện Ngô Hoàng P có nhiều biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra phát hiện trên tay phải của Ngô Hoàng P đang cầm 01 (một) đoạn ống nhựa màu xanh, sọc trắng, bên trong có chứa các tinh thể rắn màu trắng và được quấn băng keo màu đen bên ngoài, Ngô Hoàng P khai nhận là ma túy đá của người bạn tên Châu Quốc P1 cho để mang về nhà sử dụng nên Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố H (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ) tiến hành lập biên bản bắt Ngô Hoàng P trong trường hợp phạm tội quả tang cùng tang vật.

Căn cứ bản Kết luận giám định số: 22/KL-KTHS, ngày 07/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận như sau: Tinh thể rắn chứa trong 1 đoạn ống nhựa màu xanh sọc trắng, có quấn băng keo màu đen bên ngoài, được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3: 23008160 gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,108 gam, loại Methamphetamine.

Căn cứ Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 04/01/2025 và lời khai nhận của bị cáo.

Như vậy đã có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Ngô Hoàng P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, A, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Như chúng ta đã biết, hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho xã hội rất nặng nề, nó đang làm hủy hoại sức khỏe của chính người sử dụng, xói mòn sự tồn tại và phát triển của loài người, tàn phá cuộc sống yên vui gia đình của người sử dụng, gây tác hại trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định và phát triển của xã hội.

Hiện nay, tình trạng tàng trữ ma túy để sử dụng và mua bán trái phép trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với tính chất hết sức phức tạp. Nhằm để ổn định tình hình chính trị tại địa phương, góp phần vào công cuộc phòng chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Về nhân thân của bị cáo:

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền sự, tiền án. Do nghiện ma túy và để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Điều đó thể hiện bị cáo thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, bị cáo trình bày cậu của bị cáo là người có công với cách mạng nhưng không rõ là có công với hình thức nào, trước giờ cũng chưa có xác nhận của Chính quyền địa phương về việc này. Nên tình tiết này không được xem là tình tiết giảm nhẹ theo quy định. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.

Đối với Châu Quốc P1 không thừa nhận việc cho ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất, cả hai bảo vệ lời khai và không có tài liệu chứng cứ khác chứng minh việc cho ma túy, ngoài ra không có chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý hình sự Châu Quốc P1 trong vụ án này.

Về vật chứng vụ án:

- Đối với khối lượng ma túy liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo còn lại sau giám định được dán giấy niêm phong lại ghi “Niêm phong số: 16, ngày 04/01/2025”, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên: Lê Minh V, Nguyễn Phú B và Ngô Hoàng P. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp pháp luật.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng hoạt động do không liên quan đến hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo Ngô Hoàng P là phù hợp pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề làm thuê, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Ngô Hoàng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Ngô Hoàng P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù, nhưng được trừ các ngày tạm giữ từ ngày 04/01/2025 đến ngày 10/01/2025.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong số 16, ngày 04/01/2025, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên: Lê Minh V, Nguyễn Phú B và Ngô Hoàng P.

- Trả lại bị cáo Ngô Hoàng P: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng hoạt động do không liên quan đến hành vi phạm tội.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/3/2025).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Ngô Hoàng P phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/4/2025).

Cỡ chữ