- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T cùng đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày: 04 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Khâm;
Bà Nguyễn Thị Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Thành - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2025/TLST - HS ngày 31 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Hoàng Văn T, sinh ngày 07-10-1990. Tại tỉnh Lào Cai.
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Khe Lầu, xã Phong Dụ Hạ, tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Hoàng Văn Đ, sinh năm 1963; Con bà: Ngô Thị H - Sinh năm 1965; Vợ: Hà Thị Ng - Sinh năm 1993; Con: có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 49/2010/HSST ngày 28-10-2010, Hoàng Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái cũ xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội cướp tài sản.
Tại Quyết định số 40/2024/QĐ-XPHC ngày 08-3-2024, Hoàng Văn T bị Công an huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái cũ xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc.
Bị cáo Hoàng Văn T bị tạm giữ từ ngày 01-6-2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh Lào Cai (Có mặt).
2. Hoàng Vĩnh H, sinh ngày 15-7-1987. Tại tỉnh Lào Cai.
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Trái Hút, xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Hoàng Văn Đ (đã chết); Con bà Trần Thị V (Đã chết); Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1993; Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Hoàng Vĩnh H bị tạm giữ từ ngày 01-6-2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh Lào Cai (Có mặt).
Người có quyền lợi liên quan đến vụ án:
Chị Hà Thị Ng, sinh năm 1993.
Trú tại: Thôn Khe Lần, xã Phong Dụ Hạ, tỉnh Lào Cai (có mặt).
Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1978.
Trú tại: Thôn Toàn An, xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt).
2. Anh Đặng Duy H2, sinh năm 1981.
Trú tại: Thôn Đức An, xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 31-5-2025 tại thôn Trung Tâm, xã Xuân Tầm, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái nay là thôn Trung Tâm, xã Phong Dụ Hạ, tỉnh Lào Cai, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Yên Bái phối hợp với Công an xã Xuân Tầm kiểm tra phát hiện Đặng Duy H2, sinh năm 1981, trú tại thôn Đức An, xã Đông An, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái nay là thôn Đức An, xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai có biểu hiện vừa sử dụng trái phép chất ma túy. Tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Đặng Duy H2, kết quả dương tính. Quá trình kiểm tra thu giữ của Đặng Duy H2 01 mảnh giấy bạc đã bị than hóa; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ. Tổ công tác lập biên bản thu giữ vật chứng trên.
Tại Cơ quan điều tra Đặng Duy H2 khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 30-5-2025 khi H2 đang ở nhà thì có anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1978, trú tại thôn Toàn An, xã Đông An, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái nay là thôn Toàn An, xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai gọi điện rủ đi mua ma túy về sử dụng, H2 đồng ý đi cùng H1 đến thôn Làng Cang, xã Phong Dụ Hạ, huyên Văn Yên, tỉnh Yên Bái gặp và mua 01 gói ma túy của một người đàn ông tên là T với giá 200.000đ. Khi mua được ma túy H2 mang về nhà sử dụng một nửa, nửa còn lại H2 cất giấu trong người đến sáng ngày 31-5-2025 trên đường đi lên xã Xuân Tầm mua quế, H dừng lại ven đường sử dụng nốt số ma túy còn lại thì bị Công an bắt giữ. H2 khai trước đó đã 02 lần đi cùng Nguyễn Văn H1 đến mua ma túy của người đàn ông tên là T vào ngày 28 và 29-5-2025.
Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập Nguyễn Văn H1 lên để làm việc và tại Cơ quan điều tra H1 khai nhận đã 03 lần mua ma túy của người đàn ông tên là T nhà ở tại thôn Làng Cang, xã Phong Dụ Hạ, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 16 giờ ngày 28-5-2025 H1 gọi điện cho T hỏi mua ma túy, T đồng ý và bảo H1 đi vào nhà T. H1 rủ H2 đi cùng khi đi đến khu vực nhà máy quế gần nhà T, H1 gọi điện bảo T mang ma túy ra bán cho H1. Một lúc sau T đi đến, H1 đưa cho T 400.000đ, T nhận tiền và đưa lại cho H1 02 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy H1 và H2 đi về, số ma túy mua được H1 sử dụng hết một mình.
Lần thứ 2: Khoảng 15 giờ ngày 29-5-2025 H1 gọi điện cho T hỏi mua ma túy, T đồng ý và bảo H đi vào nhà T. Do T bận đi làm nương và bảo H1 đến nhà gặp Hoàng Vĩnh H, sinh năm 1987, trú tại thôn Trái Hút, xã An Bình, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái nay là thôn Trái Hút, xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai để lấy ma túy. H1 rủ H2 đi cùng vào nhà T, H2 đồng ý. H1 và H2 đến nhà T gặp H đang ngồi ở bếp nhà T, H đưa cho H 400.000đ, H cầm tiền và đưa lại cho H1 02 gói ma túy. Khi mua được ma túy H1 và H2 đi về, số ma túy mua được của H, H1 mang về nhà sử dụng hết một mình.
Lần thứ 3: Khoảng 15 giờ ngày 30-5-2025 H1 tiếp tục gọi điện cho T hỏi mua ma túy, T đồng ý và hẹn gặp nhau ở khu vực câu treo thuộc thôn Làng Cang, xã Phong Dụ Hạ. H1 rủ H2 đi cùng. Khi đến chỗ hẹn, H1 đưa cho T 400.000đ, T nhận tiền và đưa cho H1 02 gói ma túy; H2 đưa cho T 200.000đ, T nhận tiền và đưa cho H2 01 gói ma túy. Số ma túy trên H1 và H2 đều sử dụng hết.
Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và đồ vật của Hoàng Văn T, sinh năm 1990, trú tại thôn Khe Lầu, xã Phong Dụ Hạ, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái nay là thôn Khe Lầu, xã Phong Dụ Hạ, tỉnh Lào Cai, thu giữ: 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ ô ly, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là ma túy, loại Heroine); 01 xi lanh trong túi nilon (chưa qua sử dụng); 01 chiếc dao lam có bám dính chất bột nén màu trắng; 04 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ ô ly, có kích thước khác nhau; 01 mảnh nilon màu đen; 01 xe mô tô BKS 21FA-105.45 xe cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo vỏ màu xanh tím, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng. Ngoài ra Tính còn giao nộp 1.150.000đ tiền có chữ ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn T khai nhận chất bột nén màu trắng bị thu giữ là ma túy, loại Heroine. Ngày 28-5-2025 T mua của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, tuổi và địa chỉ, mua 01 gói với giá 500.000đ, mục đích mua ma túy về chia nhỏ để sử dụng và nếu ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Sau đó T đã bán cho Nguyễn Văn H1 03 lần và bán cho Đặng Duy H2 01 lần vào các ngày 28, 29 và 30-5-2025, phù hợp với lời khai của H1 và H2. Số tiền bán ma túy có được T đã chi tiêu cá nhân hết 250.000đ, còn lại 1.150.000đ T giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở và đồ vật của Hoàng Vĩnh H không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án. Tại Cơ quan điều tra Hoàng Vĩnh H khai nhận ngày 29-5-2025 H đã bán hộ T 02 gói ma túy với giá 400.000đ cho Nguyễn Văn H1, số tiền này H đã đưa lại cho T.
- Tại Bản kết luận giám định số 270/KL-KTHS ngày 06-6-2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Yên Bái, kết luận:
Chất bột nén màu trắng thu giữ khi khám xét nơi ở của Hoàng Văn T có khối lượng là: 0,1 gam; 0,1 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine (BL19).
- Tại Bản kết luận giám định số 571/KL-KTHS ngày 19-9-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 1.150.000 đồng, Hoàng Văn T giao nộp khi khám xét nơi ở của T gửi giám định là tiền thật (BL30).
Cáo trạng số: 04/CT-VKS-KV3 ngày 29 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai:
Truy tố Hoàng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Truy tố Hoàng Vĩnh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai vẫn giữ nguyên toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đồng thời đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Hoàng Văn T từ 9 (chín) năm đến 9 (chín) năm 6 (sáu) tháng tù;
Tuyên bố bị cáo Hoàng Vĩnh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251, Điều 17, Điều 38 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự; Ngoài ra Hoàng Vĩnh H có 03 con dưới 15 tuổi theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo. Bi cáo Hoàng Vĩnh H còn được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Vĩnh H từ 3 (ba) năm đến 3 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Vật chứng và tài sản tạm giữ trong vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu tiêu hủy: 01(một) mảnh giấy bạc đã bị than hóa; 01 (một) bật lửa ga màu đỏ; 01 (một) mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 01 (một) xi lanh trong túi nilon (chưa qua sử dụng); 01 (một) chiếc dao lam có bám dính chất bột nén màu trắng; 04 (bốn) mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ ô ly; 01 (một) mảnh nilon màu đen.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.150.000đ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo vỏ máy màu xanh tím, màn hình cảm ứng dã qua sử dụng.
- Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 250.000đ.
- Trả lại cho chị Hà Thị Ng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave Alpha BKS 21FA-105.45 xe cũ đã qua sử dụng.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn T và Hoàng Vĩnh H.
Về quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Văn T và Hoàng Vĩnh H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đúng như Cáo trạng đã truy tố, các bị cáo không có tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa người có quyền lợi liên quan chị Hà Thị Ng có đơn xin lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave Alpha BKS 21FA-105.45 là phương tiện duy nhất để phục vụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử;
Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Lào Cai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo Hoàng Văn T và Hoàng Vĩnh H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:
Hoàng Văn T là đối tượng nghiện ma túy nên ngày 28-5-2025, T đi sang khu vực chợ xã Tú Lệ huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái nay là xã Tú Lệ, tỉnh Lào Cai mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi và địa chỉ 01 gói ma túy với giá 500.000đ mang về nhà chia thành nhiều gói nhỏ để sử dụng và bán kiếm lời. Hoàng Văn T đã bán 03 lần ma túy cho Nguyễn Văn H1 và 01 lần bán ma túy cho Đặng Duy H2 (trong đó có 01 lần T nhờ Hoàng Vĩnh H bán hộ ma túy cho Nguyễn Văn H1) cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 16 giờ ngày 28-5-2025 H1 gọi điện cho T hỏi mua ma túy, T đồng ý và bảo H1 đi vào nhà T. H1 rủ H2 đi cùng. Khi đi đến khu vực nhà máy quế gần nhà T, H1 gọi điện bảo T mang ma túy ra bán cho H1. Một lúc sau T đi đến, H1 đưa cho T 400.000đ, T nhận tiền và đưa lại cho H1 02 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy H1 và H2 đi về, số ma túy mua được H1 sử dụng hết một mình.
Lần thứ 2: Khoảng 15 giờ ngày 29-5-2025 H1 gọi điện cho T hỏi mua ma túy, T đồng ý và bảo H1 đi vào nhà T. Do T bận đi làm nương và bảo H1 đến nhà gặp Hoàng Vĩnh H, sinh năm 1987, trú tại thôn Trái Hút, xã An Bình, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái nay là thôn Trái Hút, xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai để lấy ma túy. H1 rủ H2 đi cùng vào nhà T, H2 đồng ý. H1 và H2 đến nhà T gặp H đang ngồi ở bếp nhà T, H1 đưa cho H 400.000đ, H cầm tiền và đưa lại cho H1 02 gói ma túy. Khi mua được ma túy H1 và H2 đi về, số ma túy mua được của H, H mang về nhà sử dụng hết một mình.
Lần thứ 3: Khoảng 15 giờ ngày 30-5-2025 H tiếp tục gọi điện cho T hỏi mua ma túy, T đồng ý và hẹn gặp nhau ở khu vực cầu treo thuộc thôn Làng Cang, xã Phong Dụ Hạ. H1 rủ H2 đi cùng. Khi đến chỗ hẹn, H1 đưa cho T 400.000đ, T nhận tiền và đưa cho H1 02 gói ma túy; H2 đưa cho T 200.000đ, T nhận tiền và đưa cho H2 01 gói ma túy. Số ma túy trên H1 và H2 đều sử dụng hết.
Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy Hoàng Văn T và Hoàng Vĩnh H là những người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có hiểu biết nhất định về pháp luật, các bị cáo biết rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Văn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Đối với bị cáo Hoàng Vĩnh H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đây là vụ án có đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn. Hoàng Vĩnh H là người giúp sức cho Hoàng Văn T trong việc bán ma túy cho Nguyễn Văn H1, nên Hoàng Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn Hoàng Vĩnh H.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy:
Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi mua bán trái phép chất ma túy (Hoàng Văn T và Hoàng Vĩnh H) đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh tại địa phương, đồng thời còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm và tệ nạn xã hội khác, cần phải được xử lý nghiêm minh và có hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng, răn đe phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Đối với Hoàng Văn T là người nghiện ma túy; Tại Bản án số 49/2010/HSST ngày 28-10-2010, Hoàng Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội cướp tài sản (đã được xóa án tích).
Tại Quyết định số 40/2024/QĐ-XPHC ngày 08-3-2024, Hoàng Văn T bị Công an huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc (đã được xóa tiền sự). Vì vậy thể hiện bị cáo Hoàng văn Tính là người có nhân thân không tốt.
Đối với bị cáo Hoàng Vĩnh H là người nghiện ma túy. vì vậy thể hiện bị cáo là người có nhân thân không tốt.
Tiền án, Tiền sự: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra Hoàng Vĩnh H có 03 con dưới 15 tuổi theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo. Bi cáo Hoàng Vĩnh H được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản và là người nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 0,1 gam Heroine thu giữ khi khám xét nơi ở của Hoàng Văn T đã sử dụng làm mẫu giám định hết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
- 01 phong bì đã mở niêm phong do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai trả lại sau khi mở niêm phong để lấy mẫu giám định, được đánh số bút lục đưa vào trong hồ sơ vụ án. Vì vậy được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Tịch thu tiêu hủy: 01(một) mảnh giấy bạc đã bị than hóa; 01 (một) bật lửa ga màu đỏ; 01 (một) mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 01 (một) xi lanh trong túi nilon (chưa qua sử dụng); 01 (một) chiếc dao lam có bám dính chất bột nén màu trắng; 04 (bốn) mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ ô ly, có kích thước khác nhau; 01 (một) mảnh nilon màu đen.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.150.000đ (số tiền Hoàng Văn T bán ma túy cho Nguyễn Văn H1 và Đặng Duy H2); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo vỏ máy màu xanh tím, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, T sử dụng để liên lạc mua bán ma túy với Nguyễn Văn H1.
- Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 250.000đ (số tiền Hoàng Văn T bán ma túy cho Nguyễn Văn H1 và Đặng Duy H2. T đã chi tiêu cá nhân hết).
- Trả lại cho chị Hà Thị Ng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave Alpha BKS 21FA-105.45 xe cũ đã qua sử dụng là tài sản chung của gia đình, Hoàng Văn T lấy xe đi làm phương tiện để mua ma túy chị Ng không biết.
Những người tham gia tố tụng khác:
Đối với các bị cáo Hoàng Văn T và Hoàng Vĩnh H trước khi bị bắt đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Văn H1 là người đã mua ma túy của Hoàng Văn T vào các ngày 28, 29 và ngày 30-5-2025 và đã sử dụng hết.
Đối với Đặng Duy H2 là người đã mua ma túy của Hoàng Văn T vào các ngày 30-5-2025 đã sử dụng hết.
Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Nguyễn Văn H1 và Đặng Duy H2 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Hoàng Văn T và người đàn ông bán ma túy cho Hoàng Vĩnh H các bị cáo không biết tên, tuổi và địa chỉ. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không thu thập được những người bán ma túy cho T và H, do đó không có căn cứ để xử lý trong vụ án này là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T là người dân tộc thiểu số và sống ở vùng đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Hoàng Vĩnh H là hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát khu vực 3 - Lào Cai, tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 9 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 01-6-2025.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 251, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Vĩnh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Hoàng Vĩnh H 3 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 01-6-2025.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
4. Về Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu tiêu hủy: 01(một) mảnh giấy bạc đã bị than hóa; 01 (một) bật lửa ga màu đỏ; 01 (một) mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 01 (một) xi lanh trong túi nilon (chưa qua sử dụng); 01 (một) chiếc dao lam có bám dính chất bột nén màu trắng; 04 (bốn) mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ ô ly, có kích thước khác nhau; 01 (một) mảnh nilon màu đen.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.150.000đ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo vỏ máy màu xanh tím, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng.
- Truy thu nộp ngân sách Nhà nước của Hoàng Văn T số tiền 250.000đ.
- Trả lại cho chị Hà Thị Ng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave Alpha BKS 21FA-105.45 xe cũ đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/12/2025).
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Văn T và Hoàng Vĩnh H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Hà Thị Ng có quyền kháng cáo bản án phần trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. N¬i nhËn:
| - TAND tØnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 3-Lào Cai; - THA phạt tù; - Phòng THADS khu vực 3 Lào Cai; - Các bị cáo; - Người có QLLQ; - Công an tỉnh Lào Cai; - L u HS, TA. | TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |