- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày: 11 – 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Bích Lệ
2. Ông Nguyễn Văn Ri
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 14, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 14, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thành - Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 14, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/HSST ngày 30 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 28/8/2025 đối với bị cáo:
Đặng Văn T , sinh ngày 15 tháng 07 năm 1983 tại: tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ).
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Thẻ CCCD: 046083008300, cấp ngày 18 tháng 07 năm 2023; Nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Ấp 8, xã Lộc Hưng, tỉnh Đồng Nai.
Cha: Đặng Văn Th, sinh năm: 1957, Mẹ: Tống Thị N, sinh năm:1960; Bị cáo có 7 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1993; Vợ: Đào Thị Y, sinh năm 1986; Con: Đặng Anh T, sinh năm 2008; Đặng Thùy Tr, sinh năm 2013;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo Đặng Văn T đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 25/4/2025 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Vũ Thành D , sinh năm 1945 (đã chết) – Đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Bùi Thị B, sinh năm 1954 (vợ bị hại); Nơi cư trú: Ấp 8, xã Lộc Hưng, tỉnh Đồng Nai – Đại diện theo ủy quyền của đại diện bị hại: Chị Vũ Thị Th, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Ấp Bù Tam, xã Lộc Quang, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Bùi Thị B, sinh năm 1954; Nơi cư trú: Ấp 8, xã Lộc Hưng, tỉnh Đồng Nai;
2. Bà Vũ Thị L; sinh ngày: 06/05/1983; Nơi cư trú: Ấp Thắng Lợi, xã Lộc Quang, tỉnh Đồng Nai;
3. Ông Vũ Hoàng L; sinh ngày: 05/6/1978; Nơi cư trú: Ấp Bù Tam, xã Lộc Quang, tỉnh Đồng Nai;
4. Ông Vũ Thành S; sinh ngày: 30/4/1977; Nơi cư trú: Áp Bù Tam, xã Lộc Quang, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước;
5. Bà Bùi Thị B1; sinh ngày: 01/01/1954; Nơi cư trú: Ấp Thắng Lợi, xã Lộc Quang, tỉnh Đồng Nai;
6. Bà Vũ Thị T; sinh ngày: 20/10/1981; Nơi cư trú: Tổ 84, khu phố 7, phường Tân Hoà, thành phố Hồ Chí Minh;
7. Bà Vũ Thị M; sinh ngày: 10/09/1973; Nơi cư trú: Ấp Thắng Lợi, xã Lộc Quang, tỉnh Đồng Nai;
8. Bà Vũ Thị T; sinh ngày: 17/10/1985; Nơi cư trú: Ấp Bù Tam, xã Lộc Quang, tỉnh Đồng Nai Đại diện theo ủy quyền của người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị T, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Ấp Bù Tam, xã Lộc Quang, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ sáng ngày 09 tháng 3 năm 2025, Đặng Văn T là nhân viên lái xe Đội quản lý công trình đô thị huyện Lộc Ninh (cũ) điều khiển xe ô tô chở rác mang biển số 93M-000.60 lưu thông trên Quốc lộ 13 theo hướng từ xã Lộc Ninh về xã Lộc Tấn để thực hiện nhiệm vụ thu gom rác, đi cùng với Tuấn có ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1960 và anh Võ Thanh H, sinh năm 1986 là nhân viên thu gom rác. Khi đến đoạn Km 122+100 thuộc ấp 1B, xã Lộc Tấn, tỉnh Đồng Nai, Tuấn bật đèn tín hiệu xin chuyển hướng sang trái, sau đó Tuấn cho xe quay đầu sang phần đường bên trái từ hướng xã Lộc Tấn về xã Lộc Ninh để thu gom rác thì lúc này có ông Vũ Thành D , sinh năm 1945, điều khiển xe mô tô mang biển số 93H3-7246 chở vợ phía sau là bà Bùi Thị B, sinh năm 1954, lưu thông từ hướng xã Lộc Tấn về xã Lộc Ninh đã tông vào phần mạn phải đầu xe ô tô của Tuấn gây ra tai nạn giao thông, làm ông Duyên và bà Bình bị ngã ra đường làm ông Duyên bị thương nặng được đưa đi cấp cứu, sau đó ông Duyên đã tử vong, còn bà Bình bị thương nhẹ.
- Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 267/KL-KTHS ngày 10/03/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Ông Vũ Thành D sinh bị đa chấn thương, vỡ lách, tràn máu ổ bụng gây sốc mất máu cấp dẫn đến tử vong.
- Kết quả đo nồng độ cồn trong khí thở của Đặng Văn T là 0,000 miligam/1 lít khí thở; kết quả xét nghiệm chất ma túy là âm tính.
- Ngày 17/04/2025, Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Phước có Công văn số: 51/CV-PC08 trả lời: Đặng Văn T ngày sinh: 15/07/1983; địa chỉ: xã Lộc Hưng, tỉnh Đồng Nai; có giấy phép lái xe hạng C số: 700194012437, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Phước cấp.
- Ngày 23/06/2025, Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự UBND huyện Lộc Ninh kết luận xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter, biển số 93H3-7246 bị thiệt hại hư hỏng là 675.000 đồng.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:
1. Mô tả hiện trường chung nơi xảy ra tai nạn:
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông tại Km 122+100, đường QL 13 thuộc ấp 1B, xã Lộc Tấn, tỉnh Đồng Nai. Là đường hai chiều, có 02 vạch kẻ sơn liền nét, màu vàng song song, chia đường thành hai chiều đường xe chạy, đường rộng 18,4 mét, mỗi phần đường rộng 9,2 mét, lề đường bên phải hướng cửa khẩu Hoa Lư đi xã Lộc Ninh rộng 3,1 mét, đoạn đường xảy ra tai nạn không có vạch phân chia làm đường xe chạy, không có biển báo phân làn đường và nằm ngoài khu vực đông dân cư. Mặt đường khô ráo và được trải bê tông nhựa, bằng phẳng, tầm nhìn đường không bị che khuất, sau hiện trường 15 mét có gắn hệ thống biển báo “giao nhau với đường không ưu tiên và biển báo cấm máy kéo”.
2. Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
+ Xe mô tô biển số 93H-7246 được đánh số 1
+ Xe ô tô chở rác 93M-000.60 được đánh số 2
+ Vùng mảnh vỡ được đánh số 3
3. Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy tai nạn làm chuẩn:
+ Chọn trụ điện số 152 bên trong lề trái đường QL13, cách lề 2,7 mét, theo hướng lưu thông Cửa khẩu Hoa Lư đi xã Lộc Ninh
+ Chọn mép đường bên phải đường QL13 theo hướng lưu thông từ Cửa khẩu Hoa Lư đi xã Lộc Ninh làm mép đường chuẩn
+ Thống nhất đơn vị đo cho toàn bộ hiện trường vụ tai nạn giao thông là mét(m)
4. Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
- (1) Xe mô tô biển số 93H3 – 7246: sau tai nạn nằm bên phải vạch kẻ phân phần đường hướng cửa khẩu Hoa Lư đi xã Lộc Ninh, đầu xe quay về hướng xã Lộc Ninh, đuôi xe quay về hướng cửa khẩu Hoa Lư, tâm bên phải trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 3,9 mét, tâm bên phải trục bánh trước cách mép đường chuẩn là 3,55 mét, cách tâm trục bánh trước bên phải xe là (2) là 0,5 mét và cách tâm vùng mảnh vỡ (3) là 0,8 mét
- (2) Xe ô tô chở rác biển số 93M-000.60: sau tai nạn nằm trên vạch kẻ phân phần đương. Đầu xe quay vào lề đường phải hướng Hoa Lư đi Lộc Ninh, đuôi xe quay vào lề đường trái hướng Hoa Lư đi Lộc Ninh, tâm trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn 3,60 mét, cách tâm vùng mảnh vỡ là (3) 1,50 mét, tâm trục bánh trước bên trái cách mép đường chuẩn là 3,80 mét và cách tâm đường vào ấp 4A Lộc Tấn, Lộc Ninh là 10,70 mét, tâm trục bánh sau bên phải của trục sau cùng cách mép đường chuẩn 9,30 mét, tâm trục bánh sau bên trái của trục sau cùng cách mép đường chuẩn là 9,20 mét.
- (3) Vùng mảnh vỡ: sau tai nạn gồm các mảnh nhựa của xe mô tô nằm trên mặt đường bê tông nhựa, có kích thước (0,65x0,35) mét, tâm vùng mảnh vỡ cách mép đường chuẩn là 2,15 mét.
5. Phương tiện, tang vật, dấu vết và mẫu so sánh thu được:
- 01 (một) xe mô tô biển số: 93H3-7246
- 01 (một) xe ô tô tải chở rác biển số: 93M-000.60
- Các mảnh vỡ của xe mô tô
* Kết quả khám nghiệm phương tiện xác định:
1. Xe ô tô chở rác biển số 93M-000.60:
- Dấu vết trên phương tiện
+ Khám nghiệm phần đầu xe: Cảng trước hơi cong về trước, mặt ngoài phần dưới xe bên phải bị bóp méo, tróc sơn, lõm vào trong kích thước (0,45x0,3) mét, mặt ngoài vỏ xe trước, bên phải có vết trượt cao su hướng từ tâm trục ra ngoài, kích thước (0,09x0,08) mét;
2. Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter, biển số 93H3-7246
- Dấu vết trên phương tiện
+ Khám nghiệm phần đầu xe: cụm đèn xe phía trước bung bể rời khỏi vị trí, kích thước (0,3x0,15) mét, mặt nạ phía trước xe bung bể nhựa, kích thước (0,4x0,25) mét, mặt ngoài vỏ xe, phần tiếp xúc với mặt đường có vết trượt cao su hướng ngược chiều kim đồng hồ, kích thước (0,12x0,05) mét.
- Vật chứng đã thu giữ:
+ 01 xe ô tô chở rác biển số 93M-000.60;
+ 01 xe máy mô tô hiệu Jupiter, màu xám bạc, biển số 93H3-7246.
- Xử lý vật chứng:
+ 01 xe ô tô chở rác biển số 93M-000.60 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Phước đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Đội quản lý công trình đô thị huyện Lộc Ninh (cũ);
+ 01 xe mô tô hiệu Jupiter, màu xám bạc, biển số 93H3-7246 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Phước (nay là tỉnh Đồng Nai) đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Vũ Thị Thúy, sinh năm 1985.
- Trách nhiệm dân sự: Đăng Văn Tuấn đã bồi thường cho gia đình ông Vũ Thành D do bà Bùi Thị Bình (vợ bị hại) số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng), gia đình bị hại đã tự nguyện làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xin cho bị cáo hưởng án treo, đồng thời không yêu cầu gì thêm. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan và đại diện theo ủy quyền không yêu cầu gì.
Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 29/7/2025 của Việt kiểm sát nhân dân Khu vực 14, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên truy tố như cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 29/7/2025 và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Đặng Văn T mức án từ 15 (Mười lăm) đến 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách của án treo là từ 30 (Ba mươi) đến 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.
Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã xử lý đúng quy định nên đề nghị không tiếp tục giải quyết.
Về vấn đề dân sự: Bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan và đại diện bị hại đã thỏa thuận, giải quyết xong; đại diện hợp pháp bị hại không có yêu cầu khác nên đề nghị không giải quyết.
Đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa không tranh luận; đại diện theo ủy quyền của đại diện bị hại; đại diện theo ủy quyền của người có quyền và nghĩa vụ liên quan không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được việc điều khiển xe mô tô vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh Đồng Nai; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 14, tỉnh Đồng Nai, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa đại diện bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu vắng mặt nhưng có đại diện theo ủy quyền có mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra, truy tố đã có lời khai của đại diện bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, những người tham gia tố tụng khác và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa nên việc vắng mặt họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng đại diện bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; khi cần thiết, Hội đồng xét xử sẽ công bố bản khai tại phiên tòa.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, như sau:
Vào khoảng 7 giờ ngày 09/3/2025, Đặng Văn T điều khiển xe ô tô biển số 93M-000.60 đi chở rác. Khi đến đoạn đường Km 122+100 đường Quốc lộ 13, thuộc ấp 1B, xã Lộc Tấn, tỉnh Đồng Nai, mặc dù Tuấn biết đoạn đường này cấm xe quay đầu nhưng Tuấn vẫn bật đèn tín hiệu xin chuyển hướng quay đầu xe, sau đó Tuấn điều khiển cho xe quay đầu sang phần đường bên trái, không đảm bảo an toàn thì lúc này có ông Vũ Thành D điều khiển xe mô tô biển số 93H3-7246 chở vợ phía sau là bà Bùi Thị Bình, sinh năm 1954, lưu thông từ hướng xã Lộc Tấn về xã Lộc Ninh đã tông vào phần mạn phải đầu xe ô tô của Tuấn gây ra tai nạn giao thông, làm ông Duyên và bà Bình bị ngã ra đường làm ông Duyên bị thương nặng được đưa đi cấp cứu, sau đó ông Duyên đã tử vong, còn bà Bình bị thương nhẹ.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với Biên bản hiện trường, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Bản kết luận giám định pháp y về tử thi, Biên bản khám nghiệm phương tiện, phù hợp với vật chứng của vụ án. Như vậy, có căn cứ xác định: Hành vi điều khiển phương tiện giao thông xe ô tô chuyên dụng chở rác là nguồn nguy hiểm cao độ quay đầu tại vị trí không cho phép quay đầu và thiếu quan sát, chưa đảm bảo an toàn của bị cáo Đặng Văn T đã vi phạm khoản 1, 2 Điều 15 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024, đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
[4] Hành vi của bị cáo Đặng Văn T là nguy hiểm cho xã hội, gây cho ông Vũ Thành D vong. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã chủ động thăm hỏi, bồi thường, khắc phục thiệt hại cho gia đình bị hại; gia đình bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xin cho bị cáo được hưởng án treo; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh khó khăn được địa phương xác nhận; có nhân thân tốt; gia đình có công với cách mạng (có ông nội là liệt sĩ) nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự như trên, không có tình tiết tăng nặng; phạm tội lần đầu với lỗi vô ý; là lao động chính, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn; có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về án treo để cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo, rèn luyện dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương nơi bị cáo sinh sống, cũng đảm bảo phòng ngừa tội phạm; thể hiện sự khoan hồng, nhân văn của pháp luật đối với người phạm tội vô ý và ăn năn hối cải.
[5] Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra đã giải quyết, xử lý xong, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ý kiến nên không xem xét.
[6] Án phí:
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[7] Tại phiên tòa quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tội danh:
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2/ Hình phạt và điều luật áp dụng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đặng Văn T mức án 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách của án treo là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Đặng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Lộc Hưng, tỉnh Đồng Nai quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
3/ Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra đã giải quyết, xử lý xong nên không giải quyết.
4/ Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đặng Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5/ Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Đồng Nai; - VKSND Tỉnh Đồng Nai; - Phòng HSNC CA tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - VKSND Khu vực 14, tỉnh Đồng Nai; - Phòng THADS Khu vực 14, tỉnh Đồng Nai; - Phân trại tạm giam Lộc Ninh, thuộc trại tạm giam số 2-Công an Tỉnh Đồng Nai; - UBND xã Lộc Hưng, tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; Đại diện của bị hại; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VT | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Đình Học |