- Tranh chấp gì? án hình sự — "lò văn m, tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày 06-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lô Văn Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Duệ
Ông Vi Văn Duẩn
- Thư ký phiên tòa: Ông Tăng Thành Vương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vi Ngọc Thái - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An (Điểm cầu trung tâm) và tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An (Điểm cầu thành phần) tiến hành xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến và trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 15/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn M. Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 28/8/1973 tại huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Bản T S, xã C H, huyện Q Ch, tỉnh Ng A. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Mù chữ. Dân tộc: Thái. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lò Văn T và bà Lò Thị T. Vợ là Lò Thị T và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 1996. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thủy - Trợ giúp viên pháp lý. Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn S. Sinh năm 1995. Trú tại: Bản T S, xã Ch H, huyện Q Ch, tỉnh Ng A. Vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lò Văn M là người nghiện chât ma túy nên vào khoảng 15 giờ 50 phút ngày 23/12/2024, Lò Văn M điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS màu trắng, xanh mang biển kiểm soát 37G1-072.11 đi đến khu vực thị trấn T L, huyện Q C, tỉnh N A để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến vườn cây keo thuộc địa phận khối H H, thị trấn T L, huyện Q C, tỉnh Ng A thì Lò Văn M gặp một nam thanh niên và đã hỏi mua ma túy với người này số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Nam thanh niên cầm tiền rồi đưa lại cho Lò Văn M 01 (một) gói chất rắn màu trắng được bọc bằng mảnh bao ni lông màu trắng. Lò Văn M cầm lấy gói ma túy vừa mua được vào lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về nhà. Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 23/12/2024, khi vừa đi ra khỏi khu vực vườn cây keo thuộc khối H H, thị trấn T L, huyện Q Ch, tỉnh Ng A thì Lò Văn M bị tổ công tác công an thị trấn T L, huyện Q Ch yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính. Vì lo sợ bị phát hiện nên Lò Văn M thả từ lòng bàn tay trái xuống đường 01 (một) gói chất rắn màu trắng được bọc bằng mảnh bao ni lông màu trắng nhưng đã bị Tổ công tác phát hiện, thu giữ. Lò Văn M khai nhận đây là số ma túy Mào vừa mua với một nam thanh niên lạ mặt trong khu vực vườn keo thuộc khối H H, thị trấn T L. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng chuyển giao đối tượng cùng tang vật cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu xử lý theo quy định.
Tại bản Kết luận giám định số 48/KL-KTHS (Đ2 –MT) ngày 29/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Lò Văn M gửi tới giám định là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine và có khối lượng là 0,17g (không phẩy mười bảy gam).
Cáo trạng số 19/CT-VKS-QC ngày 10/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An đã quyết định truy tố bị cáo Lò Văn M ra trước Tòa án để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Lò Văn M từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma túy’’. Căn cứ Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
Ý kiến trình bày của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt. Tuy nhiên, bị cáo trình độ học vấn mù chữ, là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có nhiều tệ nạn xã hội phức tạp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lò Văn M 01 năm tù về tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma túy’’. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, xử lý vật chứng và miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Cáo trạng, không có ý kiến gì trong phần tranh luận và không bổ sung thêm ý kiến gì vào bản bào chữa của người bào chữa mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra và truy tố đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lò Văn S: Xét thấy, quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, quá trình giải quyết vụ án đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó sự vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[3] Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:
Qúa trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định được bị cáo là người nghiện chất ma túy nên vào chiều ngày 23/12/2024 đã điều khiển xe máy đến khu vực vườn cây keo thuộc địa phận khối Hoa Hải, thị trấn T L, huyện Q C, tỉnh Ng A gặp và mua được của một nam thanh niên không quen biết 01 gói ma túy loại Heroine với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy thì bị cáo đi về, đến khoảng 16 giờ cùng ngày khi vừa đi ra khỏi khu vực vườn cây keo thuộc khối H H, thị trấn T L, huyện Q C, tỉnh Ng A thì bị Công an kiểm tra phát hiện và bắt quả tang bị cáo đang có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,17g.
Thấy rằng lời khai của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là thống nhất với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,17g với mục đích để sử dụng. Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Lò Văn Mào đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đúng như nội dung truy tố của Cáo trạng.
Đối với nam thanh niên đã bán ma tuý cho bị cáo Lò Văn M vào ngày 23/12/2024. Quá trình điều tra và tại phiên toà không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để xử lý.
[4] Xét tính chất của vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ nhận thức nhất định về pháp luật để biết rằng các loại ma túy nói chung là chất gây nghiện được Nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép nhưng bị cáo đã không có ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân, coi thường kỷ cương pháp luật, mặc dù là người nghiện chất ma túy nhưng đã không thật sự có ý thức cai nghiện để từ bỏ ma túy mà còn tìm mua ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện của bản thân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm và có một mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[5] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS quy định: ‘‘Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền…’’. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản và không có khả năng thi hành án. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 0,17g ma túy loại Heroine, đã trích toàn bộ đi giám định và đã giám định hết. Nay còn lại mảnh bao nilon màu trắng cùng vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào một phong bì thư dán kín. Đây là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 37G1-072.11, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu sơn trắng xanh, số khung 108675, số máy 108683, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được chiếc xe thuộc sở hữu hợp pháp của anh Lò Văn S (Anh Sơn là con của bị cáo Lò Văn M). Anh Sơn không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe này để đi mua ma túy. Do đó, cần trả lại chiếc xe máy nêu trên cho anh Lò Văn S theo quy định.
[1] Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo năm 2024, 2025, có giấy chứng nhận hộ nghèo, có đơn xin miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định và thuộc trường hợp được miễn án phí. Do đó cần xem xét miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lò Văn M 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 23/12/2024.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy mảnh bao ni lông màu trắng cùng toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào một phong bì thư dán kín.
Trả lại cho anh Lò Văn S 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 37G1- 072.11, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu sơn trắng xanh, số khung 108675, số máy 108683, xe đã qua sử dụng.
(Tất cả vật chứng nêu trên có đặc điểm như mô tả trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng được lập vào ngày 12/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An).
3. Án phí: Căn cứ Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn M.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND h Quỳ Châu, VKSND tỉnh Nghệ An; - Phòng KTNV&THAHS TAND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; - UBND xã Châu Hạnh, huyện Qùy Châu; - Công an xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS h.Quỳ Châu; - Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án, lưu văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lô Văn Linh |