vanban.org

Bản án 20/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 20/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A L phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm i, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng A L 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 09/10/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A L phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA SÚP
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST
Ngày 20 tháng 01 năm 2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: OÂng Lưu Quốc Chinh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng

Bà Lang Thị Son

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Súp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tham gia phiên tòa:

Ông Trần Dƣơng Công – C/v Kiểm sát viên

Trong ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea Súp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 23/2024/TLST-HS, ngày 31 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

1. Vàng A L – SN: 1972 tại tỉnh Yên Bái;

Nơi đăng ký HKTT: Thôn 14, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở: Thôn 14, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Vàng A C và bà Sùng Thị T (đều không rõ năm sinh); Bị cáo có vợ Hờ Thị L1 – SN: 1973, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 09 tháng 10 năm 2024 (Bị cáo có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Công M – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

- Người chứng kiến: Anh Bế Công H – SN: 2003

Địa chỉ: Thôn 01, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

- Người phiên dịch cho bị cáo L: Bà Phùng Thị D – SN: 1997

Địa chỉ: Thôn 15, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Có măt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 19 giờ 30 phút ngày 09/10/2024 tại xã C Vàng A L đi bộ tìm mua ma túy về sử dụng thì gặp một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch), L hỏi mua 300.000 đồng ma túy thì người này đồng ý bán. Sau khi mua được ma túy. L cầm gói ma túy trong lòng bàn tay rồi đi bộ về nhà. Khoảng 20 giờ 25 phút cùng ngày, khi vừa đi về đoạn đường thôn 14, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk thì bị Cơ quan điều tra Công an huyện Ea Súp phát hiện bắt quả tang L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu lòng bàn tay trái của L có 01 gói nylon màu đen, bên trong có chứa 01 cục chất rắn màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu đỏ, L khai nhận là ma túy.

Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Vàng A L, ngày 10 tháng 10 năm 2024, xác định kết quả L dương tính ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 1673/KL-KTHS, ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Cục chất rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,3936 gam, loại Heroine, còn lại sau giám định 0,3484 gam; 01 viên nén hình tròn màu đỏ, được niêm phong gửi giám định là Ma túy, khối lượng 0,1018 gam, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định 0,0464 gam.

Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ: 0,3936 gam, loại Heroine được gói trong túi nylon màu đen; 01 viên nén hình tròn màu đỏ 0,1018 gam, loại Methamphetamine; 01 chiếc đèn pin đội đầu.

Cáo trạng số: 56/CT-VKS ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp truy tố bị cáo Vàng A L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tại phiên tòa đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vàng A L như nội dung bản cáo trạng và đưa ra các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.

Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vàng A L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vàng A L từ 02 (hai) năm đến 02 năm (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,3484 gam, loại Heroine; 01 viên nén hình tròn màu đỏ khối lượng 0,0464 gam, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 chiếc đèn pin đội đầu.

Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, ông Phạm Công M người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với tội danh, điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát truy tố, áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên về mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị nghiêm khắc so với hành vi của bị cáo, bởi bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo không biết chữ, là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật có phần hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc cho bị cáo mức án dưới mức án thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến đối đáp tranh luận gì thêm, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cũng như người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung, hành vi: Tại phiên tòa bị cáo Vàng A L đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình vào ngày 09/10/2024 bị cáo gặp một người phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch mua 300.000 đồng ma túy, đựng trong 01 gói nylon màu đen và 01 viên nén hình tròn màu đỏ mục đích về sử dụng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo cầm gói ma túy trong lòng bàn tay rồi đi bộ về nhà, khi đi về đoạn đường thôn 14, xã C, huyện E, khoảng 20 giờ 25 phút cùng ngày thì bị Cơ quan điều tra Công an huyện Ea Súp phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết luận giám định 0,3936 gam, loại Heroine, còn lại sau giám định 0,3484 gam, 01 viên nén hình tròn màu đỏ, khối lượng 0,1018 gam, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định 0,0464 gam. Tổng khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ 0,4954 gam.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và những chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp về tội danh truy tố, mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với pháp luật.

Xét quan điểm của người bào chữa cho bị cáo, đề nghị cho bị cáo mức án dưới mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị. Hội đồng xét xử nhận thấy, trên địa bàn huyện Ea Súp tình trạng nghiện ma túy ngày càng gia tăng. Bị cáo là người nghiện, ma túy dẫn đến, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến việc quản lý chất ma túy của Nhà nước nên cần có mức án đủ nghiêm đối với bị cáo nhằm răn đe và phòng ngừa chung cũng như đảm bảo thời gian bị cáo cai nghiện. Về án phí xét thấy bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 nên chấp nhận yêu cầu của người bào chữa miễn án phí cho bị cáo.

Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Vàng A L đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nó không những trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn lôi kéo những người khác vào con đường nghiện ngập dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải xử phạt bị cáo với mức án đủ nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có đủ điều kiện cải tạo thành người có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cũng thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp tự do, thu nhập không ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch, đã bán ma túy cho bị cáo. Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh do đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát huyện Ea Súp không khởi tố nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xử lý.

Các biện pháp tư pháp:

Về vật chứng: 0,3484 gam ma túy, loại Heroin; 01 viên nén hình tròn màu đỏ, có tổng khối lượng ma túy 0,0464 gam, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 chiếc đèn pin đội đầu. Xét vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Xét thấy bị cáo Vàng A L là người đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A L phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm i, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Vàng A L 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 09/10/2024.

Các biện pháp tƣ pháp:

Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,3484 gam ma túy, loại Heroin; 01 viên nén hình tròn màu đỏ, có khối lượng ma túy 0,0464 gam, loại Methamphetamine còn lại sau giám định đã được niêm phong và toàn bộ gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu; 01 chiếc đèn pin đội đầu.

Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ea Súp và Chi cục thi hành án dân sự huyện E ngày 17 tháng 01 năm 2025.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A L.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ