vanban.org

Bản án 20/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Sĩ T được ly hôn bà Trần Thủy T1.

Về con chung: Ông T và bà T1 có 02 (hai) con chung tên Trần Lộc Tuấn A, sinh ngày 22/4/2015 và Trần Lộc Tuấn K, sinh ngày 08/8/2019. Ông T được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung sau khi ly hôn. Bà T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do ông T không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Sĩ T được ly hôn bà Trần Thủy T1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST
Ngày 08 tháng 8 năm 2025
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Việt - Ông Lý Tuấn Phong

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Duy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 405/2025/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 5 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 406/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18 tháng 6 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Sĩ T, sinh năm 1992. Nơi cư trú: 8 khóm T, phường M, tỉnh An Giang. Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Trần Thủy T1, sinh năm 1994. Nơi cư trú: 8 khóm T, phường M, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn cùng các lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Sĩ T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà T1 quen biết tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M vào năm 2015. Sau khi kết hôn sống hạnh phúc đến tháng 5/2025 thì phát sinh mâu thuẫn nên vợ chồng sống ly thân, nguyên nhân chủ yếu về kinh tế gia đình do bà T1 không chí thú làm ăn, gây nợ dẫn đến vợ chồng thường cự cãi, mâu thuẫn ngày càng lớn. Thời gian sống ly thân cả hai không có thiện chí hàn gắn. Do mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm dành cho nhau không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên ông yêu cầu ly hôn bà T1.

Về con chung: Ông T trình bày ông và bà T1 có 02 (hai) con chung tên Trần Lộc Tuấn A, sinh ngày 22/4/2015 và Trần Lộc Tuấn K, sinh ngày 08/8/2019. Ông T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung theo nguyện vọng của con, không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng, vì ông có việc làm ổn định có thu nhập đủ khả năng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết, bị đơn bà Trần Thủy T1 được niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông T. Phiên tòa mở lần thứ hai, bà T1 tiếp tục vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của đương sự và đề xuất việc giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Các văn bản tố tụng được tống đạt, niêm yết đúng quy định tại các Điều 171, 173, 175, 177 và 179 BLTTDS 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của BLTTDS về xét xử vụ án. Nguyên đơn thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Sĩ T được ly hôn bà Trần Thủy T1. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Trần Lộc Tuấn A, sinh ngày 22/4/2015 và Trần Lộc Tuấn K, sinh ngày 08/8/2019 cho ông T chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, ông T không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Ông T yêu cầu giải quyết ly hôn bà T1, bà T1 cư ngụ tại phường M, thành phố L (nay là phường M, tỉnh An Giang) nên Tòa án nhân dân Khu vực 9-An Giang thụ lý đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Phiên tòa hôm nay được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bà T1 vắng mặt không có lý do. Ông T không yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.

. Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà T1 tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân yêu cầu ly hôn theo ông T trình bày, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 5/2025 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu về kinh tế gia đình do bà T1 không chí thú làm ăn, gây nợ dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn ngày càng lớn. Thời gian sống ly thân cả hai không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Do mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên ông yêu cầu ly hôn bà T1.

Quá trình giải quyết vụ án bà T1 vắng mặt. Theo phiếu yêu cầu xác minh của Tòa án tại Công an phường M, thành phố L ngày 02/6/2025 thể hiện: Trần Thủy T1, sinh năm 1994 có đăng ký thường trú tại số H khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Do bà T1 vắng mặt, Tòa án thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bà T1 biết nhưng bà T1 vẫn không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và tài liệu chứng cứ do ông T cung cấp, cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ hoặc phản đối yêu cầu khởi kiện của ông T là bà T1 đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại khoản 5 Điều 70; Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, trong gia đình vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, tôn trọng và cùng nhau chia sẻ vui buồn trong cuộc sống, đây là cơ sở vững chắc để bồi đắp, duy trì tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên cả ông T và bà T1 đều không quan tâm, không có biện pháp để hòa giải níu kéo, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Phiên tòa được mở lần thứ hai bà T1 tiếp tục vắng mặt là không có nguyện vọng đoàn tụ. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc thật sự cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T được ly hôn bà T1.

. Về con chung: Ông T và bà T1 có 02 (hai) con chung tên Trần Lộc Tuấn A, sinh ngày 22/4/2015 và Trần Lộc Tuấn K, sinh ngày 08/8/2019 hiện do ông T chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu Tuấn A có nguyện vọng được sống với ông T nếu cha mẹ ly hôn. Ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung theo nguyện vọng của con, không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng vì ông có việc làm ổn định có thu nhập đủ khả năng nuôi con. Bà T1 không tranh chấp quyền nuôi con.

Do đó, để ổn định cuộc sống của các con chung sau khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Tuy nhiên ông T nuôi con, không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông T phải tạo điều kiện cho bà T1 được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ông T nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, vì lợi ích của con ông T, bà T1 được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con chung.

. Về tài sản chung và nợ chung: Ông T không yêu cầu giải quyết. Bà T1 không có ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử chưa xem xét giải quyết.

. Về án phí: Ông Tân chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Sĩ T được ly hôn bà Trần Thủy T1.

- Về con chung: Ông T và bà T1 có 02 (hai) con chung tên Trần Lộc Tuấn A, sinh ngày 22/4/2015 và Trần Lộc Tuấn K, sinh ngày 08/8/2019.

Ông T được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung sau khi ly hôn. Bà T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do ông T không yêu cầu.

Ông T phải tạo điều kiện cho bà T1 được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung. Ông T nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, vì lợi ích của con ông T, bà T1 được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chưa xem xét giải quyết.

- Về án phí: Ông Trần Sĩ T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002842, ngày 09/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 - Thi hành án dân sự tỉnh An Giang). Ông T đã nộp đủ tiền án phí.

Quyền kháng cáo: Ông T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà T1 không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ