vanban.org

Bản án 20/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị S

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị S và anh Nguyễn Văn T được ly hôn nhau. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Bảo A, sinh ngày 04/5/2022 cho chị Hồ Thị S được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con bởi chị S không yêu cầu vì chị có đủ điều kiện để nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thị S- Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị S
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỆ THỦY
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30- 5- 2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Việt và ông Lê Ngọc Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diệu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Hôm nay, ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 43/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 22/4/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST- HNGĐ ngày 08/5/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hồ Thị S, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn A, xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1995; địa chỉ: Bản C, xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 12/3/2025, bản tự khai ngày 02/4/2025 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hồ Thị S đều trình bày: Chị Hồ Thị S và anh Nguyễn Văn T tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 17/3/2022.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng 01 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không phù hợp nên thường xuyên cải vả nói nhau, Chị S và anh T sống ly thân từ tháng 02/2024 cho tới nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Nay chị S xét thấy tình cảm giữa chị và anh T không còn, sống với nhau không có hạnh phúc nên chị S mong muốn được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Chị S trình bày chị và anh T có 01 con chung là Nguyễn Bảo A, sinh ngày 04/5/2022. Ly hôn, chị S có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung với chị.

Về tài sản chung: Không có, nên chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai cũng như các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được Tòa án tống đạt hợp lệ.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả hỏi và tranh luận tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng:

Yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị S xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Nguyễn Văn T là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn T có địa chỉ cư trú tại xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình nên Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Giấy triệu tập đến tham gia phiên tòa ngày 08/5/2025, nhưng anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa lần thứ hai anh Nguyễn Văn T vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Nguyễn Văn T.

. Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị S và anh Nguyễn Văn T đăng ký kết hôn ngày 17/3/2022 tại UBND xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không phù hợp nên thường xuyên cải vả nói nhau, Chị S và anh T sống ly thân từ tháng 02/2024 cho tới nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Anh T đã được Tòa án thông báo các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần, kể cả phiên tòa lần thứ hai cũng được tống đạt hợp lệ nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Qua xác nhận của Công an xã K do chị S cung cấp: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1995; nơi đăng ký HKTT tại xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình, hiện nay anh Nguyễn Văn T đang làm ăn sinh sống, có mặt tại địa phương.

Song sau khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt trực tiếp cho anh T mà anh vẫn vắng mặt, qua đó chứng tỏ anh T cố tình không chấp hành các thông báo, giấy triệu tập của Tòa án, không quan tâm bảo vệ hạnh phúc gia đình và không tha thiết hàn gắn tình cảm với chị S nữa. Chị S thì xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết và yêu cầu xin được ly hôn anh T. Xét thấy, tình cảm vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần xử cho hai bên ly hôn nhau là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Xét chị S và anh T có 01 con chung Nguyễn Bảo A, sinh ngày 04/5/2022. Chị S có nguyện vọng xin được nuôi con, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con với chị, bởi chị có đủ điều kiện để nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy hiện tại con của chị S và anh T đang còn nhỏ, cần được sự chăm sóc của người mẹ nên cần chấp nhận theo yêu cầu của chị S, giao con Nguyễn Bảo A cho chị S được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, là phù hợp với các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Không có, chị S không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị S

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị S và anh Nguyễn Văn T được ly hôn nhau.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Bảo A, sinh ngày 04/5/2022 cho chị Hồ Thị S được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con bởi chị S không yêu cầu vì chị có đủ điều kiện để nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí:

Chị Hồ Thị S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Tiền án phí chị S phải chịu được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án huyện Lệ Thủy theo biên lai số 0004561 ngày 12/3/2025. Chị S đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (30/5/2025); bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú và trụ sở Uỷ ban nhân dân xã nơi cư trú để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ