vanban.org

Bản án 20/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc L.

Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị Ngọc L được ly hôn với anh Trần Thanh Q. Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa Lê Thị Ngọc L và Trần Thanh Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 22-01-2025
V/v tranh chấp “Ly hôn”
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thực;

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Huỳnh Văn Thanh;

- Ông Nguyễn Văn Tư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tiểu Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 553/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc L, sinh năm 1997; cư trú tại: Ấp C, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. (Xin vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Trần Thanh Q, sinh năm 1996; cư trú tại: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, nguyên đơn, chị Lê Thị Ngọc L trình bày:

Chị và anh Trần Thanh Q tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có thời gian quen nhau khoảng 04 tháng thì tổ chức đám cưới vào ngày 10-01-2024. Trước đó cả hai bên đều có vợ, có chồng; anh Q có vợ, con nhưng không đăng ký kết hôn, con riêng do vợ trước anh Q nuôi, còn chị thì ly hôn với chồng cũ, con do chồng cũ chị nuôi. Hai bên đăng ký kết hôn vào ngày 11-01-2024 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C. Sau khi cưới, chị về sống chung cùng gia đình cha mẹ chồng. Vợ chồng sống hạnh phúc chưa được một tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Q ghen rồi chửi chị, con riêng và cha mẹ của chị, đánh chị 02 lần. Do không thể sống chung với nhau được nên chị đã đi làm và dọn ra ở trọ tại khu công nghiệp T từ cuối tháng 9-2024 đến nay. Trong thời gian chị đi, vợ chồng chẳng những không hòa giải hàn gắng được mà anh Q còn nhắn tin chửi chị. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Q vì nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên không thể đoàn tụ được.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, dù anh Trần Thanh Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị L, vắng mặt trong các phiên họp và tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Anh Trần Thanh Q và chị Lê Thị Ngọc L tranh chấp về ly hôn; anh Q cư trú tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án là của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

[2] Nguyên đơn, chị Lê Thị Ngọc L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn, anh Trần Thanh Q không có đơn xin xét xử vắng mặt, đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt anh Q, chị L.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân giữa anh Trần Thanh Q và chị Lê Thị Ngọc L là hợp pháp vì có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 04/2024 ngày 11-01-2024. Theo chị L, chị và anh Q tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, nhưng sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 01 tháng thì phát sinh mâu thuẫn do anh anh Q ghen tuông, mắng chửi và đánh chị. Do không thể sống được nên chị L đã bỏ đi và đến nay không hàn gắng, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9-2024. Mặc dù nguyên nhân mâu thuẫn do chị L nêu, nhưng anh Q không có ý kiến gì phản đối là tự mình từ bỏ nghĩa vụ chứng minh. Anh Q cũng không đến Tòa để hàn gắn tình cảm vợ chồng, điều đó cho thấy anh Q đã không còn quan tâm đến hôn nhân với chị L. Tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” và “vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”. Qua đó, Hội đồng xét xử nhận thấy giữa anh Q và chị L đã không còn tình nghĩa vợ chồng, tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không còn nên mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị L là có căn cứ.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị L khai không có, anh Q không có ý kiến gì về các vấn đề này, nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết sau bằng vụ án khác.

Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc L là nguyên đơn khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc L.

- Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị Ngọc L được ly hôn với anh Trần Thanh Q.

- Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002578 ngày 05-11-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, nên xem như đã thi hành xong.

- Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Ngọc L, anh Trần Thanh Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ