vanban.org

Bản án 20/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Lý O.

Về hôn nhân: Chị Lê Lý O được ly hôn với anh Phan Hoài T. Về con chung: Giao cho anh Phan Hoài T được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Phan Quốc B1, sinh ngày 14 3 2013 và Phan Thị Ngọc B2, sinh ngày 29/4/2016 cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Lê Lý Oanh và Phan Hoài Thanh"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Lý O.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST;
Ngày: 08/01/2025.
V/v tranh chấp“Xin ly hôn, tranh
chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thủy Uyên;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Anh Chiến;

2. Ông Trương Hoàng Hoa;

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ái Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 429/2024 TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 229 2024 QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Lý O, sinh năm 1989;

Địa chỉ: ấp TH, xã TTB, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn: Anh Phan Hoài T, sinh năm 1986;

Địa chỉ: ấp TH, xã TTB, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

(Chị O có mặt, anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Lê Lý O trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Phan Hoài T tự nguyện cưới nhau và sống chung từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Anh chị sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T gia trưởng, thường kiếm chuyện cãi vả, đập phá đồ đạc. Mặc dù anh chị cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không thành công, mâu thuẫn ngày càng

- 2 -

trầm trọng nên anh chị không còn sống chung từ đầu năm 2024. Nay không còn tình cảm nên chị xin được ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Phan Quốc B1, sinh ngày 14/3/2013 và Phan Thị Ngọc B2, sinh ngày 29/4/2016 hiện đang sống với anh T. Khi ly hôn, chị xin nhường quyền nuôi hai con cho anh T, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Phan Hoài T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Lý O vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và lời tình bày của mình, bị đơn anh Phan Hoài T vắng mặt không lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, trừ bị đơn không chấp hành đúng quy định. Về nội dung, yêu cầu của chị Lê Lý O về việc xin ly hôn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 con chung tên Phan Quốc B1, sinh ngày 14/3/2013 và Phan Thị Ngọc B2, sinh ngày 29/4/2016 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị O không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn chị Lê Lý O yêu cầu ly hôn với anh Phan Hoài T nên Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh T cư trú tại ấp TH, xã TTB, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Phan Hoài T đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh T.

Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Lý O, Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1] Về hôn nhân: Chị O và anh T cưới nhau năm 2012, do tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 20/4/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Chị O xin ly hôn với anh T với lý do

- 3 -

bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T thường kiếm chuyện cãi vả, đập phá đồ đạc. Mặc dù anh chị cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không thành công, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên anh chị không còn sống chung từ đầu năm 2024. Tòa án đã triệu tập anh T nhiều lần để tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng anh vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn của chị O, cho thấy anh T không có thành ý cứu vãn cuộc hôn nhân giữa hai người. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị O và anh T đã trầm trọng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị O là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Phan Quốc B1, sinh ngày 14/3/2013 và Phan Thị Ngọc B2, sinh ngày 29/4/2016 hiện đang sống với anh T. Khi ly hôn chị O xin nhường quyền nuôi hai con cho anh T. Xét thấy cháu B1 và cháu B2 đang sống với anh T đã ổn định về chỗ ở và điều kiện sinh hoạt. Phía anh T không có ý kiến phản đối và vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu B1 và cháu B2 cho anh T nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị O khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị O phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét ý kiến và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Điều 227, Điều 228, Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- 4 -

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Lý O.

Về hôn nhân: Chị Lê Lý O được ly hôn với anh Phan Hoài T.

Về con chung: Giao cho anh Phan Hoài T được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Phan Quốc B1, sinh ngày 14 3 2013 và Phan Thị Ngọc B2, sinh ngày 29/4/2016 cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị O không phải cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không có yêu cầu.

Về án phí: Chị O phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu số 0007945 ngày 04/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, nên xem như chị đã nộp xong.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. .

Cỡ chữ