vanban.org

Bản án 20/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Thu H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” với ông Trương Quốc D.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Thu H được ly hôn với ông Trương Quốc D. Về con chung: Giao con chung tên Trương Quốc T, sinh ngày 14/6/2019 cho bà Hoàng Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Thu H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” với ông Trương Quốc D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18-7-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Kim Thoa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan

Ông Trần Văn Chánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 512/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 222/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Thu H, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Số A, tổ B, ấp M, phường T, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: Số A, tổ B, ấp M, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Nai).

- Bị đơn: Ông Trương Quốc D, sinh năm 1975.

HKTT: Số S, khu phố B, phường B, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: Số S, khu phố B, phường N, thành phố H, tỉnh Đồng Nai).

Nơi ở hiện nay: Nhà không số, hẻm H, khu phố M, phường B, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: Nhà không số, hẻm H, khu phố M, phường N, thành phố H, tỉnh Đồng Nai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và tại phiên hòa giải, nguyên đơn bà Hoàng Thị Thu H trình bày:

Bà và ông Trương Quốc D đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện ngày 15/11/2018 và được Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (nay là Ủy ban nhân dân phường Tân Triều, tỉnh Đồng Nai) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 122/2018.

Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng sống rất hạnh phúc đến đầu năm 2024 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau. Ông D thường xuyên đi ra ngoài từ sáng sớm đến chiều tối mới về, vợ chồng không có nhiều thời gian giành cho nhau nên không có sự thấu hiểu và cảm thông cho nhau. Bà và ông D đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Đời sống chung của vợ chồng không còn hạnh phúc dẫn đến tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và không thể tiếp tục chung sống với nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng tháng 11/2024 đến nay, mỗi người sống một cuộc sống riêng, không có sự quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau.

Nay bà xác định không còn tình cảm với ông D, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Trương Quốc D.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 (một) con chung tên Trương Quốc T, sinh ngày 14/6/2019. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay, cháu T sống cùng với mẹ, phát triển tốt về mọi mặt.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì bận công việc nên bà xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

- Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trương Quốc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không chấp hành theo đúng quy định.

- Về quan điểm giải quyết vụ án như sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử cho bà Hoàng Thị Thu H được ly hôn với ông Trương Quốc D.

+ Về con chung: Giao con chung tên Trương Quốc T, sinh ngày 14/6/2019 cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời ông D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

+ Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Bà H phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Hoàng Thị Thu H khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trương Quốc D đăng ký thường trú tại địa chỉ: Số S, khu phố B, phường B, tỉnh Đồng Nai và hiện nay đang sinh sống tại địa chỉ: Nhà không số, hẻm H, khu phố M, phường B, tỉnh Đồng Nai, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Hoàng Thị Thu H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng bị đơn ông Trương Quốc D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Thu H và ông Trương Quốc D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (nay là Ủy ban nhân dân phường Tân Triều, tỉnh Đồng Nai) cấp Giấy chứng nhận kết hôn 15/11/2018, nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và Ông D là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án, bà H kiên quyết yêu cầu được ly hôn với ông D với lý do hiện nay không còn tình cảm với ông D; trong thời gian chung sống, vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau; cuộc sống hôn nhân thường xảy ra mâu thuẫn, không hạnh phúc. Hiện nay vợ chồng bà đã ly thân từ tháng 11/2024 đến nay. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông D để làm việc, hòa giải nhưng ông D vắng mặt không có lý do, thể hiện việc ông D đã bỏ mặc, không mong muốn hòa giải để hàn gắn, níu kéo tình cảm, quan hệ hôn nhân với bà H. Từ những căn cứ trên, xét hôn nhân giữa bà H và ông D lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu ly hôn với ông D là có cơ sở. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Thu H, cho bà H được ly hôn với ông Trương Quốc D.

Về con chung: Vợ chồng có 01 (một) con chung tên Trương Quốc T, sinh ngày 14/6/2019. Bà H xin được nuôi con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con, vì từ ngày vợ chồng ly thân, bà H là người trực tiếp nuôi con chung.

Xét thấy, cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Hiện nay, cháu T đang sống cùng với mẹ, được mẹ chăm sóc, phát triển bình thường. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu T cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên là phù hợp theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho Ông D do bà H không yêu cầu.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

Về nợ chung: Đương sự xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Bà Hoàng Thị Thu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 220, 228, 235, 238, 264, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Thu H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” với ông Trương Quốc D.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Thu H được ly hôn với ông Trương Quốc D.

- Về con chung: Giao con chung tên Trương Quốc T, sinh ngày 14/6/2019 cho bà Hoàng Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm thời ông Trương Quốc D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được ngăn cản họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

2. Về án phí: Bà Hoàng Thị Thu H phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006024 ngày 05/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Đồng Nai). Bà Hoàng Thị Thu H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ