vanban.org

Bản án 20/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Và Y Ch được ly hôn với ông Lầu Rua N. Bà Và Y Ch và ông Lầu Rua N chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Giao cháu tên là Lầu Đua Ch, sinh ngày 29/4/2022 cho bà Và Y Ch trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi, trư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KỲ SƠN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 12 - 5 - 2025 “V/v Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con khi ly
hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngân Mai Quỳnh.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vi Thị Khiểu, Bà Bùi Thị Nga.

Hội thẩm nhân dân dự khuyết: Bà Cụt Thị Hương, Bà Kha Thị Thuần, ông La Khăm Ỏn, Ông Thái Đình Thanh, Ông Lầu Bá Dìa, Bà Vừ Y Xừ, Ông Trần Thanh Bình, Ông Dềnh Bá Lồng, Ông Lầu Bá Chò, Bà Xã Thị Cẩm Tú, Ông Trần Thanh Vân, Bà Thái Thị Ly, Ông Lang Thanh Lương, Ông Moong Thái Nhi, Bà Nguyễn Xuân Quỳnh, Ông Cụt Văn Ỏn, Ông Moong Văn Vũ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quang Thái Tài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia

phiên toà: Ông Và Bá Của – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 21/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 03 năm 2025 “Về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXX-ST ngày 03 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Và Y Ch, sinh năm 1985.

Địa chỉ ĐKNKTT: Bản C, xã M, huyện K, tỉnh N. Chỗ ở hiện nay: Bản T, xã N, huyện K, tỉnh N. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Lầu Rua N, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Bản C, xã M, huyện K, tỉnh N. Vắng mặt không có lý do.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Công Thiết - Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo biên bản lấy lời khai của nguyên đơn ngày 19/03/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đơn xin xét xử vắng mặt bà Và Y Ch trình bày:

Bà Ch và ông Lầu Rua N kết hôn vào ngày 31/7/2019, đăng ký kết hôn tại UBND xã Mường Típ, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc chỉ được một thời gian ngắn, đến năm 2021 bắt đầu xẩy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Nguyên nhân xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn và ông N thay đổi tính cách luôn hắt hủi, ít quan tâm chăm sóc đến vợ con, mỗi khi không vừa ý ông N thường có hành vi bạo lực gia đình đánh đuổi bà Ch ra khỏi nhà. Quá trình xảy ra mâu thuẫn đã được hai gia đình cũng như chính quyền nhiều lần hòa giải nhưng không thành, áp lực mệt mỏi từ mâu thuẫn nên bà Ch đã dọn đồ về bên ngoại sinh sống tại bản T, xã N, huyện K, tỉnh N từ đó đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà Ch làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lầu Rua N.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung tên là Lầu Đua Ch, sinh ngày 29/4/2022. Nếu ly hôn bà Ch có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu ông N cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không ai nợ vợ chồng bà.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm ông Lầu Rua N đều vắng mặt. Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Về tình cảm: Bà Và Y Ch và ông Lầu Rua N đăng ký kết hôn tại UBND xã Mường Típ, huyện Kỳ Sơn trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện về kết hôn. Tuy nhiên trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân đã lâu không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị HĐXX cho bà Và Y Ch được ly hôn với ông Lầu Rua N; Về con chung: Do hiện nay ông N không có mặt ở địa phương, việc giao con cho ông N nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt của con, con đang còn nhỏ cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của người mẹ nên đề nghị HĐXX xem xét giao con chung cho bà Và Y Ch trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung của vợ chồng bà Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn ly hôn của bà Và Y Ch. Buộc bà Và Y Ch và ông Lầu Rua N chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; Về con chung: Giao con chung tên là Lầu Đua Ch, sinh ngày 29/4/2022 cho bà Và Y Ch trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung của vợ chồng bà Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí bà Và Y Ch phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn hiện cư trú tại Bản C, xã M, huyện K, tỉnh N nên Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Qua xác minh tình trạng hôn nhân bà Ch và ông N tại UBND xã Mường Típ cho biết, sau khi đăng ký kết hôn bà Ch và ông N đã phát sinh mâu thuẫn tình cảm khi ông N rời địa phương đi làm ăn xa họ thiếu sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện tại ông N không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không xác định rõ vì ông N không khai báo cắt khẩu tạm trú, tạm vắng.

Tại biên bản lấy lời khai ông Lầu Pà C, sinh năm 1962 có địa chỉ bản Chà Lạt, xã Mường Típ, huyện Kỳ Sơn là bố đẻ của ông Lầu Rua N cho biết, sau khi ông N và bà Ch kết hôn và sinh sống tại nhà ông N một thời gian rồi cùng nhau vào tỉnh phía Nam làm công nhân thì đã phát sinh mâu thuẫn tình cảm nên bà Ch bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, còn ông N thì vẫn đang ở tỉnh phía Nam, địa chỉ cụ thể thì ông C không biết, ông C cũng đã gọi điện thông báo cho ông N biết về việc ông C đã nhận thay các văn bản của Tòa án đến tống đạt cho ông N và nhiều lần khuyên nhủ ông N về giải quyết ly hôn nhưng ông N từ chố không về giải quyết ly hôn với bà Ch.

Như vậy, bị đơn đã thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới. Theo quy định tại Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi là cố tình che giấu địa chỉ nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tụng chung là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lầu Rua N đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông Lầu Rua N theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Lầu Rua N không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét thấy bà Và Y Ch và ông Lầu Rua N có đăng ký kết hôn vào ngày 31/7/2019 tại UBND xã Mường Típ, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, việc đăng ký kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Và Y Ch và ông Lầu Rua N là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà Ch và ông N phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ năm 2021 cho đến nay, họ không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, như vậy bà Và Y Ch và ông Lầu Rua N đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng.

Tại phiên tòa ông Lầu Rua N vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương cho biết: Quá trình kết hôn và chung sống vợ chồng bà Và Y Ch và ông Lầu Rua N có nhiều mâu thuẫn tình cảm và đã ly thân từ 2021 cho đến nay họ không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện tại ông N không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết vì ông N không khai báo cắt khẩu tạm trú, tạm vắng. Tại biên bản lấy lời khai ông Lầu Pà C là bố đẻ của ông Lầu Rua N cho biết, sau khi ông N và bà Ch kết hôn họ cùng nhau vào tỉnh phía Nam làm công nhân thì đã xảy ra mâu thuẫn tình cảm nên bà Ch bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, còn ông N thì vẫn đang ở trong Nam, địa chỉ cụ thể thì ông C không biết. Ông C đã thông báo cho ông N biết về việc bà Ch khởi kiện ly hôn với ông N và thuyết phục ông N về giải quyết ly hôn nhưng ông N không về. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà Và Y Ch và ông Lầu Rua N không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho bà Và Y Ch được ly hôn với ông Lầu Rua N.

Về con chung: Vợ chồng bà Và Y Ch và ông Lầu Rua N có 01 người con chung tên là Lầu Đua Ch, sinh ngày 29/4/2022. Nếu ly hôn bà Ch có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông N cấp dưỡng tiền nuôi con. Do hiện nay ông Lầu Rua N không có mặt tại địa phương, việc giao con cho ông N nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt của con. Xét nguyện vọng của bà Và Y Ch là chính đáng, để đảm bảo quyền lợi của con nên xét giao con chung cho bà Và Y Ch trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con bà Và Y Ch không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà Và Y Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Và Y Ch phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Và Y Ch được ly hôn với ông Lầu Rua N. Bà Và Y Ch và ông Lầu Rua N chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: Giao cháu tên là Lầu Đua Ch, sinh ngày 29/4/2022 cho bà Và Y Ch trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi, trưởng thành.

Ông Lầu Rua N có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.

Bà Và Y Ch cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về án phí: Áp dụng khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bà Và Y Ch phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0001134, ngày 04/03/2025.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ