- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Kim A - Lữ Hoài  - LH"
- Tòa quyết gì? Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25-4-2025 Về việc “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Ngọc Ngân Hà;
2. Ông Huỳnh Văn Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 318/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Kim A, sinh năm 1992 Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An. (Vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Lữ Hoài Â, sinh năm 1994; Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T; Địa chỉ: Ấp B xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 10 năm 2024, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà Vũ Thị Kim A trình bày và yêu cầu:
Bà và ông Lữ Hoài  cưới nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 20-11-2018. C sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2023 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau. Bà và ông  đã ly thân từ tháng 12 năm 2023 đến nay. Về hôn nhân: Bà A yêu cầu ly hôn với ông Lữ Hoài Â; Về nuôi con chung: Bà A yêu cầu được trực tiếp nuôi 03 con chung tên: Lữ Hoàng N, sinh ngày 10-5-2019, Lữ Hoàng S, sinh ngày 15-4-2021 và Lữ Ái V, sinh ngày 06-01-2023 (đang sống với bà A), bà A không yêu cầu ông  phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về chia tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết; Về chia nợ chung: Không có.
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 11 tháng 4 năm 2025, bị đơn ông Lữ Hoài  trình bày thống nhất trình bày của bà Vũ Thị Kim A về ngày tháng điều kiện kết hôn, thời gian ly thân, con chung, việc không có tài sản chung và nợ chung. Về mâu thuẫn không có. Ngày 18-12-2023, ông bị bắt về tội buôn bán hàng cấm và bị xử phạt 06 năm tù giam nên ly thân từ ngày 18-12-2023 đến nay. Về hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà Vũ Thị Kim A. Về nuôi con chung: Ông đồng ý để bà A trực tiếp nuôi con chung, ông không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ nhận xét: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được đảm bảo; Người tham gia tố tụng chấp hành, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị ghi nhận sự thống nhất của hai bên đương sự để chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn.
- Vụ án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được do bị đơn là ông Lữ Hoài  đang chấp hành án phạt tù không thể tham gia hòa giải.
- Ngày 11-4-2025, ông Lữ Hoài  có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Ngày 14-4-2025, bà Vũ Thị Kim A có đơn xin xét xử vắng mặt; Do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Bà Vũ Thị Kim A khởi kiện “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Lữ Hoài Â; Tòa án nhân dân huyện Đ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Bà A, ông  có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Tại phiên tòa, nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện, các đương sự trình bày thống nhất với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.
Xét về hôn nhân:
Bà A và ông  chung sống có đăng ký kết hôn ngày 20-11-2018 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông  là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
Xét việc bà A yêu cầu ly hôn và ông  đồng ý ly hôn:
Bà A cho rằng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ly thân từ tháng 12 năm 2023 đến nay; Ông  cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn, chỉ do ông đang chấp hành án phạt tù. Bà A không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho mâu thuẫn vợ chồng. Tuy nhiên, xét từ khi xảy ra mâu thuẫn và ly thân đến nay, bà A và ông  không khắc phục được mâu thuẫn gia đình, bà A và ông  mỗi người vẫn tự lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc nhau.
Mâu thuẫn giữa bà A và ông  đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc trước khi mở phiên tòa bà A yêu cầu ly hôn và ông  đồng ý ly hôn là tự nguyện, phù hợp theo quy định tại điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình nên ghi nhận.
Xét về nuôi con chung:
Trước khi mở phiên tòa, bà A yêu cầu và ông  thống nhất là bà A được trực tiếp nuôi 03 con chung tên: Lữ Hoàng N, sinh ngày 10-5-2019, Lữ Hoàng S, sinh ngày 15-4-2021 và Lữ Ái V, sinh ngày 06-01-2023 (đang sống với bà A). Việc bà A yêu cầu và ông  trình bày thống nhất là tự nguyện nên ghi nhận là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình.
Xét về cấp dưỡng nuôi con: Bà A không yêu cầu ông  cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện, phù hợp theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình nên ghi nhận.
Ông  được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung, bà A và ông  được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều 83, 84, 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về chia tài sản chung: Bà A và ông  trình bày không có, nên không đề cập là phù hợp quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình. [7] Về chia nợ chung: Bà A và ông  trình bày không có, nên không đề cập. Nếu xảy ra tranh chấp, các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo pháp luật tố tụng dân sự là phù hợp quy định tại Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình. [8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ; [9] Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xét thấy: Bà A và ông  thuận tình ly hôn trước khi mở phiên tòa, mỗi người phải chịu 150.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn; Bà A được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, trả lại cho bà A 150.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm; Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, các Điều 147, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 55, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Về hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện của đương sự: Bà Vũ Thị Kim A và ông Lữ Hoài  thuận tình ly hôn. 2. Về nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của đương sự: Bà Vũ Thị Kim A được trực tiếp nuôi 03 con chung tên: Lữ Hoàng N, sinh ngày 10-5-2019, Lữ Hoàng S, sinh ngày 15-4-2021 và Lữ Ái V, sinh ngày 06-01-2023 (đang sống với bà A); Ông Lữ Hoài  không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông  được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung, bà A và ông  được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều 83, 84, 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình. 3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. 4. Về án phí: Bà Vũ Thị Kim A và ông Lữ Hoài  mỗi người phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn; Bà Vũ Thị Kim A được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, trả lại cho bà A 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo Biên lai thu số 0004879 ngày 11-12-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).
5. Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - UBND xã B (để ghi sổ hộ tịch); - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hùng Vương |