vanban.org

Bản án 20/2025/HGNĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho chị Phạm Thị Mộng C ly hôn anh Trương Hoàng T.

Giao con chung là cháu Trương Phạm Thảo M, sinh ngày 18 tháng 01 năm 2018 cho chị Phạm Thị Mộng C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Trương Hoàng T không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không đượ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án giữa nguyên đơn chị Phạm Thị Mộng C và bị đơn anh Trương Hoàng T"
  • Tòa quyết gì? Cho chị Phạm Thị Mộng C ly hôn anh Trương Hoàng T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHƯỚC,
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST
Ngày 13-01-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Phương.

2. Ông Phạm Thành Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh An, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thơ – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 288/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 220/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Mộng C, sinh năm 1991; địa chỉ: Khu phố M, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trương Hoàng T, sinh năm 1992; địa chỉ: Khu phố M, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 6 năm 2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị Mộng C trình bày: Chị và anh Trương Hoàng T tìm hiểu một thời gian thì tự nguyện đi đến hôn nhân. Anh chị đăng ký kết hôn vào ngày 15 tháng 5 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng khoảng 02 năm nay thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân vì anh T cờ bạc, gây ra nhiều khoản nợ lớn cho gia đình, chị nhiều lần phải trả nợ cho anh. Chị đã khuyên bảo anh nhưng anh không thay đổi. Chị nhờ cha mẹ chồng dạy bảo thì cha mẹ chồng cho rằng chuyện của vợ chồng không liên quan đến ông bà và còn xúc phạm chị. Một thời gian thì anh T bỏ đi, chị có điện thoại bảo anh về giải quyết nợ riêng vì nhiều người đến nhà đòi nhưng anh không về còn hăm dọa, xúc phạm chị. Nhận thấy không thể chịu đựng thêm nên chị đưa con về nhà cha mẹ chị. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung tên là Trương Phạm Thảo M, sinh ngày 18 tháng 01 năm 2018. Hiện con đang sống với chị. Nếu ly hôn, chị yêu cầu được nuôi cháu M và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Trương Hoàng T không cung cấp văn bản trình bày ý kiến của mình cũng như không tham gia tố tụng.

Tại phiên Toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án tiến hành thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị C được ly hôn với anh T, giao con chung cho chị C nuôi, chị C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị Mộng C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con với anh Trương Hoàng T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh T đang cư trú tại khu phố M, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Chị C có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T, chị C.

Quá trình giải quyết vụ án, chỉ có chị C cung cấp tài liệu chứng cứ. Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào những tài liệu chứng cứ này và kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án để giải quyết vụ án.

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Mộng C và anh Trương Hoàng T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 15 tháng 5 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định nên hôn nhân giữa chị C, anh T là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị C yêu cầu ly hôn vì cho rằng mâu thuẫn vợ chồng do anh T cờ bạc, gây ra nhiều khoản nợ lớn cho gia đình, chị nhiều lần phải trả nợ cho anh. Anh T bỏ nhà đi trong khi có nhiều người đến nhà đòi nợ. Xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau làm việc, chăm lo cho con nhưng anh T không lo làm ăn mà còn cờ bạc, nợ nần, phá tán tài sản của gia đình nên đã“Vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng”. Chị C nộp đơn ly hôn, anh T không đến Tòa và cũng không đưa ra ý kiến gì để đoàn tụ mà bỏ mặc hạnh phúc gia đình. Điều đó có thể chứng minh tình trạng hôn nhân giữa chị C, anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho chị C được ly hôn anh T.

Về quan hệ con chung: Chị C, anh T có 01 con chung tên là Trương Phạm Thảo M, sinh ngày 18 tháng 01 năm 2018. Chị C yêu cầu được nuôi cháu M. Xét thấy, thời gian vợ chồng không sống chung, cháu M sống với chị C, gắn bó, thân thiết với mẹ và chị C vẫn đảm bảo các điều kiện để cháu M được phát triển bình thường. Do đó, áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu M cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung và nợ: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Phạm Thị Mộng C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, các Điều 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên xử:

1. Cho chị Phạm Thị Mộng C ly hôn anh Trương Hoàng T.

2. Giao con chung là cháu Trương Phạm Thảo M, sinh ngày 18 tháng 01 năm 2018 cho chị Phạm Thị Mộng C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Trương Hoàng T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Chị Phạm Thị Mộng C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí mà chị C đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002762 ngày 07 tháng 10 năm 2024 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Nơinhận:

Cỡ chữ