- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (điều 355 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2024/HSST Ngày 10/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Huân
Các hội thẩm nhân dân
: Bà Bạch Thị Kim Loan
Bà Nguyễn Vũ Thị Tuyết Mai
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Duy Trung
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Huyền - Kiểm sát viên
Ngày 10/01/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 777/2023/HSST ngày 20/12/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 794/2023/QĐXXST-HS ngày 22/12/2023 đối với bị cáo:
Vũ Đăng C, sinh năm 1994; Giới tính: Nam; Trú tại: Thôn C C x Vi t H huy n Thanh H Hải Dương; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghi p: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Vũ Văn H và bà Phạm Thị C; Vợ là Hoàng Hà N; Có 02 con, lớn sinh năm 2018 nhỏ sinh năm 2021; Tiền án tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 22/09/2023 đến ngày 17/11/2023 được thay đ i bi n pháp ngăn chặn bằng bi n pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
- Người bị hại: Anh Võ Hoàng G sinh năm: 1981; Trú tại: Lương N thị trấn Lương S huy n Bắc B Bình Thuận. (Vắng mặt)
- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Bùi Đức M sinh năm 1990; Trú tại: phư ng Cầu D quận Nam Từ L, Hà Nội. (Có mặt)
2. Anh Trần Xuân Tr sinh năm 1987; Thư ng trú: Thôn Quang V x Quang Y huy n Sông L Vĩnh Phúc; Nơi ở: Ocean Park Đa T Gia L Hà Nội. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Thực hi n kế hoạch được phân công, khoảng 06 gi ngày 08/02/2023, t Thanh tra đặc bi t (TTĐB) của Thanh tra Công an thành phố Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 496/QĐ - CAHN - PX05 ngày 31/01/2023 của Giám đốc Công an Hà Nội tiến hành theo dõi t CSGT của Đội CSGT số 14, gồm 03 đồng chí: Đại úy Bùi Đức M (sinh năm 1990; trú tại: TDP số 1,phư ng Cầu D quận Nam Từ L, TP Hà Nội) Thượng úy Trần Xuân Tr (sinh năm 1987; trú tại: Thôn Quang V x Quang Y huy n Sông L, tỉnh Vĩnh Phúc) Trung úy Vũ Đăng C (sinh năm 1994; trú tại: Thôn C C x Vi t H huy n Thanh H, tỉnh Hải Dương) đang làm nhi m vụ tại khu vực nút giao ng tư Giải Phóng - đư ng gom vành đai 3 phư ng Hoàng Li t, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 06h30’cùng ngày t TTĐB phát hi n một đồng chí trong t CSGT dừng phương ti n xe ô tô BKS: 86A-167.09 do anh Võ Hoàng G (sinh năm 1981; HKTT: T 9 thôn Lương Nam TT Lương Sơn huy n Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận) điều khiển tại ng tư đư ng gom vành đai 3 - đư ng Giải Phóng hướng về đư ng Giải Phóng. Sau đó anh G đỗ lại, xuống xe đi về Bốt chỉ huy giao thông. Tại đây anh G được Vũ Đăng C thông báo lỗi vi phạm “Không chấp hành chỉ dẫn của vạch kẻ đư ng” anh G trình bày với Vũ Đăng C và xin nộp phạt tại chỗ. C yêu cầu anh G phải nộp 12 tri u đồng, nếu không nộp thì ký biên bản xử phạt tước giấy phép lái xe 02 tháng. Lúc này anh G có đưa cho C 02 tri u đồng và để trên mặt bàn làm vi c nhưng C không đồng ý. Anh G quay về xe lấy thêm 3,5 tri u đồng để đưa C nhưng C yêu cầu phải nộp đủ 12 tri u đồng. Anh G nói không có đủ tiền mặt thì C yêu cầu đi rút tiền. Do lo sợ bị tước bằng lái xe ô tô nên anh G đ đi ra cây ATM phía Bến xe nước ngầm rút 10 tri u đồng rồi quay lại Bốt chỉ huy giao thông đưa cho Vũ Đăng C số tiền là 12 tri u đồng. Sau khi nhận 12 tri u đồng, C trả lại giấy t xe và bằng lái xe cho anh G, mà không lập biên bản xử phạt, anh G cũng không bị xử lý gì và điều khiển xe tiếp tục di chuyển được một đoạn thì bị t TTĐB yêu cầu anh G dừng xe ô tô lại để hỏi về vi c bị t CSGT dừng phương ti n xe ô tô, anh G đ trình bày như nội dung vụ án nêu trên và anh G đ viết đơn trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an TP. Hà Nội, về vi c anh bị CSGT chiếm đoạt số tiền 12 tri u đồng.
T TTĐB đ t chức kiểm tra hồ sơ tài li u liên quan tại Bốt chỉ huy CSGT trên thì Vũ Đăng C tự ý bỏ chạy qua ng tư hướng sang hồ Linh Đàm; 03 cán bộ t TTĐB đu i theo. Khi đu i theo khoảng gần 100m đến khu vực đất trống, mọc nhiều cây cỏ dại cách trạm gác chắn tàu Hoàng Li t 31,4m, về phía Bắc, cách đư ng ray đư ng sắt Bắc - Nam 11m, C dùng tay phải móc trong túi quần sau bên phải ném xuống đất một số tiền và đ bị thu giữ gồm: 24 t tiền m nh giá 500.000 đồng, 16 t tiền m nh giá 200.000 đồng, 13 t tiền m nh giá 100.000 đồng, 47 t tiền m nh giá 50.000 đồng, 04 t tiền m nh giá 10.000 đồng; T ng số tiền là 18.890.000 đồng và tiếp tục bỏ chạy. Khoảng 20 phút sau, Vũ Đăng C quay lại Bốt chỉ huy CSGT làm vi c với t TTĐB và được m i về Trụ sở Thanh tra Công an thành phố Hà Nội để làm rõ.
Tại Cơ quan Điều tra:
- Anh Võ Hoàng G và những ngư i ngồi trên xe ô tô nhãn hi u Mitsubishi Expander, màu bạc, BKS: 86A-167.09 do anh Võ Hoàng G điều khiển gồm có: chị Trần Thị H, Anh Nguyễn Đ, Chị Lê Thị H đều khai phù hợp với nội dung nêu trên. Anh G đề nghị Cơ quan pháp luật yêu cầu bị can C, phải trả lại cho anh 12 tri u đồng và xử lý C theo quy định của pháp luật. Ngày 07/10/2023 gia đình Vũ Đăng C đ trả cho anh G 12 tri u đồng, anh G nhận lại tiền không đề nghị gì về dân sự và gửi đơn đề nghị Cơ quan pháp luật giảm nhẹ hình phạt đối với Vũ Đăng C.
- Bị can Vũ Đăng C khai: Ban đầu C không khai nhận hành vi phạm tội. Sau đó trong quá trình điều tra, C đ thừa nhận vi c đe dọa giữ bằng lái xe ô tô để yêu cầu anh G đưa số tiền 12 tri u đồng. Khi bị t TTĐB tiến hành kiểm tra, C bỏ chạy và vứt hết tiền có trong túi xuống đất là 18.890.000 đồng trong đó 12 tri u đồng là tiền nhận của anh Võ Hoàng G, số còn lại là tiền cá nhân của C. Vi c nhận tiền của anh G và không lập hồ sơ xử phạt do C tự thực hi n, không bàn bạc và chia tiền cho ai.
- Bùi Đức M khai: M là ngư i đ dừng phương ti n của anh Võ Hoàng G do phát hi n anh G vi phạm lỗi “Không chấp hành chỉ dẫn của vạch kẻ đư ng”. Sau khi kiểm tra thấy anh G xuất trình đầy đủ giấy t , anh M đ yêu cầu anh G vào Bốt chỉ huy giao thông để xử lý sau đó anh M tiếp tục thực hi n nhi m vụ phân luồng giao thông, chống ùn tắc. M không biết vi c Vũ Đăng C nhận tiền và không xử lý vi phạm của anh Võ Hoàng G.
- Trần Xuân Tr khai: Quá trình tuần tra kiểm soát giao thông từ 06 gi đến khi t Thanh tra đặc bi t vào kiểm tra, anh Tr không dừng bất kỳ phương ti n nào để kiểm tra và xử phạt. Khi t Thanh tra đặc bi t đến kiểm tra, Tr nghe thấy tiếng hô “đứng lại” sau đó không thấy Vũ Đăng C tại bốt giao thông, khoảng 30 phút sau thì C xuất hi n tại bốt giao thông làm vi c với t Thanh tra. Trong quá trình làm nhi m vụ, khoảng 6h30’ ngày 08/2/2023 anh Tr và anh M làm nhi m vụ ngoài ngã tư đư ng gom vành đai 3 giao đư ng Giải Phóng còn Võ Đăng C làm nhi m vụ trong Bốt chỉ huy giao thông.
Ngày 08/2/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội đ làm vi c với những ngư i ngồi trên xe ô tô nhãn hi u Mitsubishi Expander, màu bạc, BKS: 86A-167.09 do anh Võ Hoàng G điều khiển gồm có: Chị Trần Thị H (sinh năm 1984; trú tại: thôn Lương N thị trấn Lương S huy n Bắc B, tỉnh Bình Thuận
- vợ anh G); Anh Nguyễn Đ (sinh năm 1974; trú tại: Thôn Dốc Đ x Phan L huy n Bắc B, tỉnh Bình Thuận); Chị Lê Thị H (sinh năm 1973; trú tại: Thôn Dốc Đ x Phan L huy n Bắc B, tỉnh Bình Thuận) đều trình bày có nghe anh G kể lại vi c phải đưa 12 tri u đồng cho đồng chí CSGT để được bỏ qua lỗi vi phạm. Ngoài ra, anh Nguyễn Đ còn biết vi c anh G quay lại xe để lấy 3.500.000 đồng.
* Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội đ tiến hành khám nghi m hi n trư ng hồi 11h ngày 08/2/2023, rà soát các nhân chứng xung quanh để làm rõ vụ án. Kết quả đ phát hi n thu giữ tại vị trí cách Trạm gác chắn tàu Hoàng Li t 31,4m về phía Bắc, cách đư ng ray đư ng sắt Bắc - Nam 11m, trên đám cây dại có một số t tiền Vi t Nam gồm nhiều m nh giá nằm lộn xộn trên di n (1,2x1,7) m. Các t tiền bị ẩm ướt. Qua kiểm đếm, số tiền nói trên gồm: 24 t tiền m nh giá 500.000 đồng, 16 t tiền m nh giá 200.000 đồng, 13 t tiền m nh giá 100.000 đồng, 47 t tiền m nh giá 50.000 đồng, 04 t tiền m nh giá 10.000 đồng. T ng số tiền là 18.890.000 đồng.
* Cơ quan Điều tra đ tiến hành rà soát camera xác định: Camera của Bến xe nước ngầm có 01 mắt camera hướng ra phía Bốt cảnh sát giao thông. Th i điểm khoảng 06 gi 30 phút ngày 8/2/2023 có hình ảnh đồng chí Cảnh sát giao thông dừng xe ô tô màu trắng 05 chỗ và đưa lái xe vào Bốt giao thông làm vi c. Đến khoảng 07 gi 50 phút cùng ngày có hình ảnh đồng chi Cảnh sát giao thông chạy từ Bốt giao thông chạy băng qua đư ng sắt theo hướng Hồ Linh Đàm và 01(một) nam thanh niên mặc quần áo dân sự đu i theo sau; Camera tại chốt chắn đư ng tàu của Công ty c phần đư ng sắt Hà Hải xác định th i điểm khoảng 07 gi 50 phút có hình ảnh đồng chí Cảnh sát giao thông chạy từ Bốt giao thông băng qua đư ng sắt theo hướng Hồ Linh Đàm và 01(một) nam thanh niên mặc dân sự đu i theo sau phù hợp nội dung trình bày của T TTĐB.
Ngày 08/2/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội đ tiến hành dẫn giải anh Võ Hoàng G xác định các vị trí dừng xe kiểm tra, vị trí giao nhận tiền và vị trí rút tiền tại cây ATM. Cơ quan điều tra tiến hành nhận dạng bản ản kết quả anh Võ Hoàng G nhận dạng được Vũ Đăng C là ngư i trực tiếp làm vi c với anh G tại Bốt giao thông và yêu cầu anh G đưa tiền chiếm đoạt của anh G là 12 tri u đồng ngày 8/2/2023.
* Ngày 16/3/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội đ ra quyết định trưng cầu giám định số 159 đối với số tiền thu được tại hi n trư ng.
* Tại bản kết luận số: 1686/KL- KTHS ngày 24/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP. Hà Nội kết luận: 104 t tiền Ngân hàng nhà nước Vi t Nam (gồm: 24 t tiền m nh giá 500.000 đồng; 16 t tiền m nh giá 200.000 đồng; 13 t tiền m nh giá 100.000 đồng; 47 t tiền m nh giá 50.000 đồng; 04 t tiền m nh giá 10.000 đồng) cần giám định là tiền thật.
* Ngày 16/3/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội đ ra quyết định trưng cầu giám định số 158 đối với số tiền thu được tại hi n trư ng.
* Tại bản kết luận số: 1900/KL-KTHS ngày 03/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Trên 01(một) t tiền Vi t Nam m nh giá 200.000 đồng gửi giám định phát hi n thấy 01(một) dấu vết đư ng vân. Dấu vết đư ng vân phát hi n được không đủ yếu tố giám định; số t tiền còn lại gửi giám định không phát hi n dấu vết đư ng vân”.
* Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội tiến hành xác minh tại Ngân hàng Agribank, kết quả: Chủ tài khoản số 4805205090xxx mở tại Ngân hàng Agribank mang tên Võ Hoàng G (sinh năm 1981; HKTT: TT Lương S huy n Bắc B, tỉnh Bình Thuận; CCCD: 2609xxxx); Thống kê số t tiền, m nh giá t tiền, t ng số tiền của giao dịch rút tiền từ tài khoản nêu trên tại Cây ATM Agribank địa chỉ Bến xe Nước Ngầm, Pháp Vân, Tứ H phư ng Hoàng Li t, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội vào ngày 08/02/2023: Th i gian từ 06 gi 52 phút đến 06 gi 55 phút, khách hàng rút 02 lần, mỗi lần 5.000.000đ t ng cộng 10.000.000đ gồm những m nh giá tiền mỗi lần rút: 500.000đ (06 t ) 200.000đ (07 t ), 100.000đ (06 t ).
Ngoài ra Ngân hàng Agribank đ cung cấp hình ảnh ngư i rút số tiền trên tại cây ATM địa chỉ: Bến xe Nước Ngầm, Pháp Vân Tứ Hi p phư ng Hoàng Li t, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, xác định là hình ảnh của anh Võ Hoàng G. số t và m nh giá t tiền rút từ cây ATM đều tương đồng với m nh giá t tiền thu được tại hi n trư ng.
Đối với anh Bùi Đức M và anh Trần Xuân Tr thực hi n nhi m vụ phân luồng, điều tiết giao thông ở phía ngoài ngã tư không biết, không bàn bạc với Vũ Đăng C về vi c C yêu cầu giữ bằng lái xe ô tô của anh G để buộc anh G đưa số tiền 12 tri u đồng. Bản thân C khai vi c nhận tiền do C tự thực hi n, không bàn bạc, không nhận sự chỉ đạo của ai. Tại Cơ quan điều tra anh M khai, anh M là ngư i đ dừng xe của anh G nhưng lỗi vi phạm “Không chấp hành chỉ dẫn của vạch kẻ đư ng” thì chỉ lập biên bản vi phạm hành chính và biên bản tạm giữ giấy t xe, không bị giữ xe ô tô nên anh M nghĩ khi anh G làm vi c với C thì C sẽ lập biên bản và hẹn về đơn vị để nhận quyết định xử phạt và nộp phạt theo quy định. Do đó không có căn cứ để xử lý hình sự đối với với anh M và anh Tr trong vụ án này.
Đối với anh Võ Hoàng G khai: anh G có lỗi vi phạm giao thông “Không chấp hành chỉ dẫn của vạch kẻ đư ng” nhưng không có hình ảnh camera ghi lại lỗi vi phạm như trên mặt khác tại th i điểm xảy ra sự vi c Vũ Đăng C không lập biên bản để ghi nhận lỗi vi phạm của anh G. Do đó không có căn cứ để xác định và xử phạt về vi c anh G vi phạm khi tham gia giao thông với lỗi “không chấp hành chỉ dẫn của vạch kẻ đư ng”.
* Vật chứng vụ án: Ngày 08/2/2023 Cơ quan điều tra thu giữ tại hi n trư ng số tiền 18.890.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 705/CT-VKS-P3 ngày 29/11/2023 của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố: Vũ Đăng C về tội “Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 355 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội.
Anh Bùi Đức M đề nghị Tòa xem xét trả lại chiếc đi n thoại OPPO cho anh M.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội luận tội đối với bị cáo: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vũ Đăng C về tội “Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản”. Sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội; xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự của bị cáo Vi n kiểm sát đề nghị:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 355; điểm b s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Vũ Đăng C 18 - 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 36 - 48 tháng kể từ ngày tuyên án. Go bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục trong th i gian thử thách.
- Về trách nhi m dân sự: G đình bị cáo đ bồi thư ng cho anh G số tiền 12.000.000 đồng. Trả lại cho C số tiền 18.890.000 đồng.
- Về vật chứng vụ án:
+ Tịch thu xung quỹ nhà nước 01 đi n thoại của C.
+ Trả cho anh M, anh Tr đi n thoại đ thu giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Quyết định tố tụng của các Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội Điều tra viên Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đ thực hi n đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào l i khai của Vũ Đăng C phù hợp với l i khai của ngư i bị hại l i khai của ngư i có quyền nghĩa vụ liên quan cùng các tài li u chứng cứ có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 06 gi ngày 08/02/2023 t Cảnh sát giao thông của Đội CSGT số 14 gồm có: Đại uý Bùi Đức M Thượng uý Trần Xuân Tr và Trung uý Vũ Đăng C được phân công làm nhi m vụ phân luồng giao thông tại khu vực nút giao ng tư Giải Phóng đư ng gom vành đai 3 phư ng Hoàng Li t quận Hoàng Mai Hà Nội. Trong khi làm vi c Đại uý Bùi Đức M dừng xe ô tô nh n hi u Mitsubishi Expander màu bạc BKS 86A-167.09 do anh Võ Hoàng G điều khiển vì lỗi “Không chấp hành chỉ dẫn của Vạch kẻ đư ng” và chỉ dẫn anh G vào bốt giao thông giải quyết và tiếp tục phân luồng giao thông. Khi anh G đem giấy t xe vào bốt giao giải quyết để xuất trình thì gặp C tại đây C đ yêu cầu anh Võ Hoàng G là lái xe ô tô BKS 86A-167.09 phải đưa cho C 12.000.000 đồng để bỏ qua lỗi “Không chấp hành chỉ dẫn của vạch kẻ đư ng” nếu không đưa tiền cho C thì anh G sẽ bị xử phạt tước giấy phép lái xe 02 tháng. Anh G xin được nộp phạt tại chỗ và đưa cho C 2.000.000 đồng để trên mặt bàn làm vi c nhưng C không đồng ý. Anh G quay về ô tô lấy thêm 3.500.000 đồng để đưa cho C nhưng C vẫn không đồng ý và yêu cầu phải nộp đủ 12.000.000 đồng. Do lo sợ bị tước giấy phép lái xe nên anh G đ đưa cho C 12.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được tiền của anh G, C đ trả lại giấy t xe cho anh G không lập biên bản xử phạt không yêu cầu nộp tiền vào ngân sách nhà nước. Khi bị t Thanh tra đặc bi t của Thanh tra Công an thành phố Hà Nội mật phục phát hi n thì Vũ Đăng C đ bỏ chạy và ném xuống đư ng số tiền 18.890.000 đồng. Khoảng 20 phút sau C quay lại bốt giao thông làm vi c với t Thanh tra đặc bi t của Thanh tra Công an thành phố Hà Nội. Hành vi của Vũ Đăng C đ phạm vào tội “Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 355 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho x hội xâm phạm đến tài sản của công dân gây bức xúc dư luận cho nhân dân.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn ăn năn hối hận nhân thân chưa có tiền án tiền sự bị cáo có quá trình công tác tốt được tặng 02 giấy khen gia đình bị cáo có công với Cách mạng có ông Vũ Văn Xuân là ông nội của bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến huy chương kháng chiến; bị cáo đ tác động gia đình bồi thư ng cho ngư i bị hại ngư i bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Do bị cáo không có tình tiết tăng nặng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự có nơi cư trú rõ ràng nên cho bị cáo cải tạo ngoài x hội cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chiếm đoạt của anh Võ Hoàng G số tiền 12.000.000 đồng. G đình bị cáo đ bồi thư ng cho anh G số tiền 12.000.000 đồng. Anh G đ nhận đủ và không còn yêu cầu gì khác.
- Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra có thu giữ:
- Số tiền 18.890.000 đồng của Vũ Đăng C. Trong số tiền này có 12.000.000 đồng tiền C chiếm đoạt của anh Võ Hoàng G còn 6.890.000 đồng là tiền của C. G đình bị cáo C đ bồi thư ng cho anh G số tiền 12.000.000 đồng nên số tiền 18.890.000 đồng cần trả lại cho bị cáo C.
- 01 đi n thoại di động Samsung màu đen ghi đi n thoại bị hỏng không kiểm tra được số Imei của bị cáo cần trả lại cho bị cáo C.
- 01 đi n thoại di động OPPO màu đen có số Imei 1: 860646041310631, Imei 2: 860646041310623 của anh Bùi Đức M. Đi n thoại này không liên quan đến vụ án nên trả lại cho anh M.
- 01 đi n thoại di động Iphone màu vàng, có số Imei 1: 357286091968077, Imei 2: 357286091956478; 01 đi n thoại di động Iphone màu xám, có số Imei 1: 353240583022202; Imei 2: 353240583218289 của anh Trần Xuân Tr. Đi n thoại này không liên quan đến vụ án nên trả lại cho anh Tr.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo ngư i bị hại ngư i có quyền nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố: Vũ Đăng C phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 355; điểm b s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Vũ Đăng C 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án. Go bị cáo Vũ Đăng C cho UBND x Vi t H huy n Thanh Hà Hải Dương giám sát, giáo dục trong th i gian thử thách.
Trong th i gian thử thách nếu ngư i được hưởng án treo thay đ i nơi cư trú thì thực hi n theo luật thi hành án hình sự.
Trong th i gian thử thách nếu ngư i được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể buộc ngư i được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đ cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Trả lại cho bị cáo C: số tiền 18.890.000 đồng và 01 đi n thoại Samsung màu đen ghi đi n thoại bị hỏng không kiểm tra được số Imei.
- Trả lại cho anh Bùi Đức M: 01 đi n thoại di động OPPO màu đen có số Imei 1: 860646041310631, Imei 2: 860646041310623,
- Trả lại cho anh Trần Xuân Tr: 01 đi n thoại di động Iphone màu vàng, có số Imei 1: 357286091968077, Imei 2: 357286091956478; 01 đi n thoại di động Iphone màu xám, có số Imei 1: 353240583022202; Imei 2: 353240583218289.
Số vật chứng hi n ở Kho vật chứng Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/01/2024.
Số tiền hi n ở tài khoản 3949.0.9052463 tại Kho bạc nhà nước Hà Nội của Công an thành phố Hà Nội theo Giấy nộp tiền ngày 18/01/2024.
3. Về án phí: Áp dụng nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội quy định về án phí l phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ngư i bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.
Ngư i có quyền nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo về phần nội dung liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ngư i có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về phần nội dung liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |