vanban.org

Bản án 20/2024/HSST — Hình sự

TAND TP. Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 14/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lưu Thị H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/01/2024. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ Đ
TỈNH Q

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HSST
Ngày 14/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Đ, TỈNH Q

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tuấn Anh.

Các hội thẩm nhân dân:

1, Ông Trần Văn Nam

2, Ông Nguyễn Văn Bẩy

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Hương - Thư ký, Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Q.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ, tỉnh Q tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Công - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Q, mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 16/2024/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST - HS ngày 29 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: LƯU THỊ H (không có tên gọi khác); Sinh ngày 16 tháng 4 năm 1993, tại huyện C, tỉnh B; Nơi thường trú: thôn K, xã B, thị xã K, tỉnh H; Chỗ ở hiện nay: khu Hạ Chiều 1, phường M, thị xã K, tỉnh H; nghề ngH: lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: không; con ông: Lưu Văn T, sinh năm 1971; con bà Dương Thị N, sinh năm 1969; có chồng là Ngô Văn Q, sinh năm 1992; Chưa có con; Tiền án, tiền sự: chưa có.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 03/01/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1956.

Nơi thường trú: tổ 1, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Q. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 15 phút, ngày 03/01/2024, tại đoạn đường đường tránh Quốc lộ 18 thuộc khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Q, qua công tác tuần tra Công an thị xã Đ, phát hiện bắt quả tang Lưu Thị H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ trong lòng bàn tay trái của H 01 (một) túi nilon kích thước khoảng (2,5x2,5)cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra còn thu giữ của H 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iTel, màu đen, gắn sim số 0363.963.813.

Tại bản kết luận giám định số: 69/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong 01 (một) túi nilon thu giữ của Lưu Thị H là chất ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là: 0,267 gam (không phẩy hai sáu bẩy gam).

(Methamphetamine là chất ma túy thuộc danh mục II, STT: 247 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất).

Quá trình điều tra bị cáo Lưu Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Về nguồn gốc ma túy, H khai: Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy, khoảng 21 giờ ngày 03/01/2024, H thuê một người đàn ông làm nghề lái xe mô tô không quen biết chở đến khu vực huyện Kim Thành, tỉnh H, gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 (một) túi nilon ma túy, loại Methamphetamine với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Sau đó, H cùng người lái xe mô tô về đến đường tránh Quốc lộ 18, thuộc khu Vĩnh Hải, phường M, thị xã Đ, tỉnh Q thì H xuống xe, đang đi bộ tìm địa điểm để sử dụng ma túy thì bị Công an thị xã Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Tại Bản cáo trạng số: 20/CT-VKSĐT, ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ, tỉnh Q truy tố bị cáo Lưu Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm luận tội như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Lưu Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Thị H từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2024.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

01 (một) phong bì niêm số: 69/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q là chất Nhà nước cấm lưu hành, nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iTel, màu đen, gắn sim số 0363.963.813 không liên quan đến việc phạm tội, nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo H.

Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận, bị cáo Lưu Thị H không tranh luận gì với nội dung bản luận tội và thừa nhận việc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan sai. Bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Lời khai của bị cáo Lưu Thị H tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, với lời khai của người chứng kiến anh Nguyễn Văn L, với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 23 giờ 00 phút ngày 03/01/2024 và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ lập hồi 00 giờ 32 phút ngày 04/01/2024 tại khu V, phường M, thị xã Đ, Kết luận giám định số 69/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: khoảng 22 giờ 15 phút ngày 03/01/2024, tại đường tránh Quốc lộ 18 thuộc khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Q, Lưu Thị H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,267 gam (không phẩy hai sáu bảy gam) ma túy, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị Công an thị xã Đ bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Từ những chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận hành vi của Lưu Thị H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ, tỉnh Q đã quy kết đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến 05 game.

...”

Bị cáo Lưu Thị H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ ma túy là trái pháp luật. Nhưng vì thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên bị cáo đã bất chấp pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, hành vi của bị cáo cũng là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, tiếp tay cho các đối tượng mua bán trái phép chất ma túy và là nguyên nhân gia tăng các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, cũng cần phải xem xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cần thiết cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo nghề ngH và thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

- 01 (một) phong bì niêm phong số: 69/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q là chất Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iTel, màu đen, gắn sim số 0363.963.813 không liên quan đến việc phạm tội, nên Hội đồng xét xử thấy cần trả lại cho bị cáo.

Liên quan trong vụ án có người đàn ông bán ma túy cho Lưu Thị H, quá trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ nên không có căn cứ xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập.

Về án phí: Buộc bị cáo Lưu Thị H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lưu Thị H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/01/2024.

3. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số: 69/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q.

- Trả lại cho bị cáo Lưu Thị H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iTel, màu đen, gắn sim số 0363.963.813

(Tình trạng các vật chứng trên thể hiện trong Biên bản giao nhận vật chứng số 58, ngày 05/02/2024 giữa Công an thị xã Đ, tỉnh Q và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đ, tỉnh Q).

4. Về án phí:

Buộc bị cáo Lưu Thị H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai có mặt bị cáo tại phiên tòa. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ