- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Duy Khánh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Duy K.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2024/HSST Ngày 01-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Tấn Bình;
Ông Nguyễn Văn Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Kiều Vĩnh Phong, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Duy K, sinh ngày 03 tháng 4 năm 1999 tại Bình Dương; nơi thường trú: Ấp 3, xã T, huyện B, tỉnh D; nghề nghiệp: Làm Thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị Thúy H; tiền án; tiền sự: Bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 232/QĐ-XPVPHC ngày 12 tháng 9 năm 2022 của Công an huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương về hành vi “Cố ý gây thương tích cho người khác”, hình thức xử phạt là phạt tiền, bị cáo chưa chấp hành; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09 tháng 11 năm 2023 cho đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1992; nơi cư trú: ấp 3, xã T, huyện B, tỉnh D, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Duy K bắt đầu sử dụng ma tuý dạng đá từ năm 2017 sau đó ngưng sử dụng cho đến cuối tháng 10-2023, bị cáo K bắt đầu sử dụng lại, cách thức sử dụng là hút. Bị cáo K được bạn bè giới thiệu nên đã hai lần đến gặp và mua trực tiếp ma túy của một thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ tại lô cao su thuộc phường C, thị xã B, tỉnh D. Khoảng 00 giờ ngày 09-11-2023, bị cáo Trần Duy K điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu: HONDA, số loại: SONIC 150R, biển số: 61K1-264.93, màu: trắng-đỏ-đen, số khung: MH1KB1119MK313617, số máy: KB11E1313252 đến khu vực lô cao su thuộc phường Chánh Phú Hoà, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, bị cáo K bóp kèn xe mô tô ba lần thì có 01 nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) đến sau đó bị cáo K hỏi mua ma túy của nam thanh niên này với giá 300.000 đồng, ma túy được chứa trong 01 đoạn ống hút nhựa, màu trắng, dài khoảng 03 cm, được hàn kín hai đầu. Sau khi mua xong ma túy, bị cáo Trần Duy K cầm 01 đoạn ống hút nhựa trên tay phải và điều khiển xe mô tô trên về nhà tại ấp 3, xã Tân Hưng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương để sử dụng. Khi đi ngang qua tuyến đường ĐT 741B thuộc ấp 4, xã H, huyện B, tỉnh D (đoạn gần cây xăng Út Tuyền) thì bị lực lượng Công an xã Hưng Hoà yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Thấy vậy, bị cáo Trần Duy K liền ném 01 đoạn ống hút nhựa, màu trắng, dài khoảng 03 cm, được hàn kín hai đầu đang cầm trên tay xuống mặt đường ĐT 741B và điều khiển xe mô tô bỏ chạy được 01 mét thì bị lực lượng Công an xã Hưng Hoà bắt giữ lại. Công an xã Hưng Hòa tiếp nhận ban đầu, sau đó chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng thụ lý theo thẩm quyền.
Ngày 09 tháng 11 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương ra Quyết định trưng cầu giám định số 177/QĐ-KTMT trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương giám định thành phần và trọng lượng chất màu trắng, chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Duy K.
Tại Bản kết luận điều tra số 618/KL-KTHS(MT) ngày 17 tháng 11 năm 2023 kết luận: Tinh thể gửi đi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3065 gam; kèm theo kết luận giám định là: 01 biên bản mở niêm phong tang vật của vụ án ma túy; 01 biên bản đóng gói niêm phong, giao nhận tang vật của vụ án ma túy; hoàn lại đối tượng giám định: mẫu vật được niêm phong, hoàn trả tại phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, khối lượng/trọng lượng: 0.2798 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Duy K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.
Thu giữ vật chứng gồm 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Sonic biển số 61K1-264.93.
Qua quá trình điều tra bị cáo Trần Duy K đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập có được trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 09/CT–VKS-BB ngày 08 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Trần Duy K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Mức hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Duy K mức hình phạt từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng.
Xử lý vật chứng: Đối với 0,2798 gam ma túy, thành phần Methamphetamine là số lượng ma túy được hoàn lại sau khi giám định, xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành đề nghị tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Sonic, biển số: 61K1- 264.93 màu trắng đỏ đen do Nguyễn Văn H là chủ sở hữu hợp pháp, bị cáo K và Hậu là hàng xóm gần nhà nhau. Ngày 08-11-2023, bị cáo K mượn xe mô tô trên để đi mua đồ ăn khuya, Hậu không biết việc bị cáo K sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy. Cơ quan điều tra tiến hành trả lại xe mô tô trên cho Hậu là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Trần Duy K do bị cáo không cung cấp được họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý và sẽ tiếp tục xác minh.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố, luận tội của Viện kiểm sát. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến tranh luận.
Bị cáo trình bày lời sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người làm chứng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng. Do vậy, đã có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 00 giờ 40 phút ngày 09-11-2023, tại ấp 4, xã H, huyện B, tỉnh D, bị cáo Trần Duy K có hành vi tàng trữ 0,3065 gam ma túy thành phần Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo Trần Duy K đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, là mầm mống phát sinh ra các tệ nạn xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc tàng trữ trái phép các chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vì ham muốn bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị cáo Trần Duy K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có 01 tiền sự, chưa được xóa, bị Công an huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt về hành vi “Cố ý gây thương tích cho người khác”, hình thức xử phạt là phạt tiền, bị cáo chưa chấp hành.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xử lý vật chứng: 0,2798 ma túy thành phần Methamphetamine, là số lượng ma túy được hoàn lại sau khi giám định đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành đề nghị tịch thu tiêu hủy; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Sonic, biển số: 61K1- 264.93 màu trắng đỏ đen do Nguyễn Văn H là chủ sở hữu hợp pháp, H không biết việc bị cáo K sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy, Cơ quan điều tra tiến hành trả lại xe mô tô trên cho H là đúng với quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Duy K.
Điều 46, Điều 47 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 .
Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 260, Điều 268, Điều 269 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Duy K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09 tháng 11 năm 2023.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 0,2798 gam ma túy loại Methamphetamine được đựng trong 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 618/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số 177/QĐ-KTMT ngày 09 tháng 11 năm 2023 của CQCSĐT – Công an huyện Bàu Bàng). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Trần Duy K (người chứng kiến); Trần Hoàng Duy (bên giao mẫu); Lê Văn Cường (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS – Công an tỉnh Bình Dương;
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng ngày 11 tháng 01 năm 2024).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bàu Bàng; - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng; - Công an huyện Bàu Bàng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai |