- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Anh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2024/HS-ST Ngày 29 - 02 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Á
Ông Nguyễn Hữu Tố
- Thư ký phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Bà Phan Thị Thúy Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã H.
+ Tại điểm cầu thành phần: Bà Võ Thị Hồng Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H tham gia phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Thành Tín - Kiểm sát viên.
+ Tại điểm cầu thành phần: Bà Trương Thị Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 02 năm 2024, Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H và điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thị xã H; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Anh T, sinh ngày 23 tháng 5 năm 2001 tại tỉnh B; nơi cư trú: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần C, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1975; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 26/5/2023, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ, bắt giam ngày 15/11/2023, có mặt.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 15/11/2023, Trần Anh T nảy sinh ý định mua ma túy đá để sử dụng nên gọi điện thoại cho người thanh niên tên C (không rõ lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá và hẹn giao nhận ma túy tại công viên ở khu phố T, phường T. T điều khiển xe mô tô biển số 77C1-209XX đến điểm hẹn, theo chỉ dẫn của C, T bỏ số tiền vào gói thuốc lá JET rỗng ở lề đường và nhận 01 gói ma túy được giấu trong gói thuốc lá JET cách đó khoảng 10m. T mang gói ma túy về cất giấu thì bị lực lượng tuần tra phát hiện và bắt quả tang.
Theo kết luận giám định số 498/KL-KTHS ngày 18/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B: Các hạt tinh thể chứa trong 01 gói nylon kích thước (1,5x4)cm ghi tạm giữ của Trần Anh T là Methamphetamine, có khối lượng 0,3831 gam.
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã tạm giữ 01 bì thư dán kín niêm phong dấu tròn “Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh B”, chữ ký bên giao và bên nhận, bên ngoài bì có ghi: Vỏ, bao bì đựng mẫu và 0,2792 gam mẫu A còn lại sau giám định.
- Tạm giữ và trả lại 01 xe mô tô Dream biển số 77C1-209XX; 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng hiệu OPPO F7 có gắn sim 0355642XXX cho các chủ sở hữu hợp pháp.
Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 05 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh B đã truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị:
Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Anh T từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H gồm 01 bì thư dán kín niêm phong dấu tròn “Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh B”, chữ ký bên giao và bên nhận, bên ngoài bì có ghi: Vỏ, bao bì đựng mẫu và 0,2792 gam mẫu A còn lại sau giám định.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi của bị cáo và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Vào ngày 15/11/2023. Tại khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh B, bị cáo Trần Anh T tàng trữ trái phép 0,3831 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng trái.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng và với những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận, hành vi bị cáo Trần Anh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Cần phải xử lý bị cáo theo pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.
[5[ Đối tượng bán ma túy của bị cáo Trần Anh T không rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H tiếp tục, xác minh làm rõ, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có tiền sự về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, cần phải xem xét nhân thân của bị cáo trong quá trình lượng hình.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H về tội danh, mức hình phạt và xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Anh T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Anh T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, bắt tạm giam, ngày 15/11/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thi tiêu hủy các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H) gồm 01 bì thư dán kín niêm phong dấu tròn “Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh B”, chữ ký bên giao và bên nhận, bên ngoài bì có ghi: Vỏ, bao bì đựng mẫu và 0,2792 gam mẫu A còn lại sau giám định.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Anh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí sung Ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh B; - VKSND thị xã H; - Cơ quan CSĐT Công an thị xã H; - Nhà Tạm giữ Công an thị xã H; - Bị cáo; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Thành |