vanban.org

Bản án 20/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 19/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố các bị cáo Hồ V, Hồ Thị N phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Giao bị cáo Hồ Thị N cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện M, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ V và Hồ Thị N phạm tội Hủy hoại rừng - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố các bị cáo Hồ V, Hồ Thị N phạm tội “Hủy hoại rừng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HS-ST
Ngày 19/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Anh Liêm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Minh Thông;

2. Bà Phan Thị Hoài Thu;

- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Thị Diễm My - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: ông Lương Văn Nhân - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2024/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hồ V; giới tính: nam; sinh ngày 14/4/1992; nơi sinh: huyện M, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn 02, xã B, huyện M, tỉnh Quảng Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Ca dong; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 02/12; con ông Hồ S (sinh năm 1969) và bà Hồ Thị D (chết); vợ là Hồ Thị N (sinh năm 1995); có 04 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Hồ Thị N; sinh ngày 10/5/1995; giới tính: nữ; nơi sinh: huyện M, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn 02, xã B, huyện M, tỉnh Quảng Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Ca dong; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 02/12; con ông Hồ N (sinh năm 1963) và bà Hồ Thị K(sinh năm 1970); chồng là Hồ V (sinh năm 1992); có 04 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Hồ V: bà Lê Thị Nga - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Nam; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Thị N: ông Nguyễn Trí Bảy - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Nam; có mặt.

- Người phiên dịch: ông Lê Minh T – Chủ tịch Hội cựu chiến binh xã S, huyện H, tỉnh Quảng Nam; có mặt.

- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Quảng Nam. Người đại diện theo pháp luật: bà Lê Thị Thùy Trâm; chức vụ: Quyền Chủ tịch; có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng cuối tháng 3/2024, do thiếu đất sản xuất nông nghiệp nên Hồ V dẫn theo vợ là Hồ Thị N cùng trú tại thôn 02, xã B, huyện M, tỉnh Quảng Nam lên khoảnh 09, tiểu khu 530 thuộc Thôn TN, xã P, huyện H, tỉnh Quảng Nam phát rừng trái phép để lấy diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Hồ V và Hồ Thị N mỗi người sử dụng 01 cái rựa để phát luỗng (phát cây bụi, dây leo và những cây thân gỗ nhỏ) trong thời gian 12 ngày. Sau đó, Hồ V sử dụng máy cưa xăng của gia đình để cưa hạ cây thân gỗ lớn trên diện tích rừng đã phát, được 03 ngày thì hoàn thành. Trong thời gian chờ cây khô để vào gom đốt lấy đất sản xuất thì đến ngày 09/5/2024, Hạt kiểm lâm huyện H phát hiện lập biên bản vụ việc.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 23/5/2024 và sơ đồ trích đo kèm theo của Hạt Kiểm lâm huyện H xác định tổng diện tích rừng Hồ V và Hồ Thị N phát trái phép là 4.662m2, trên diện tích này có 69 cây thân gỗ bị chặt hạ với trữ lượng là 31,883m3, trữ lượng cây đứng trên một héc ta là 68,389m3.

Căn cứ Thông tư 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn; Thông tư 16/2023/TT-BNNPTNT ngày 15/12/2023 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Quyết định 120/QĐ-UBND ngày 11/01/2017 của UBND tỉnh Quảng Nam và Công văn trả lời số 426/CCKL-SD&PTR ngày 04/6/2024 của Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam về việc xác định chức năng rừng thì diện tích rừng mà Hồ V và Hồ Thị N phát trái phép thuộc kiểu rừng lá rộng thường xanh nghèo (TXN), quy hoạch chức năng rừng phòng hộ do Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Quảng Nam quản lý.

Tại văn bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 27/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, tỉnh Quảng Nam kết luận: Diện tích rừng Hồ V và Hồ Thị N phá trái phép có giá trị thiệt hại là 166.516.110 đồng (đã bao gồm thiệt hại về môi trường).

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Hạt kiểm lâm huyện H đã tạm giữ: 01 cái rựa dài 54cm, cán bằng gỗ dài 31cm, lưỡi bằng sắt dài 23cm (thu của Hồ Thị N); 01 cái rựa dài 55cm, cán bằng gỗ dài 33cm, lưỡi bằng sắt dài 22cm (thu của Hồ V).

Về dân sự: Nguyên đơn dân sự - đại diện Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Quảng Nam yêu cầu các bị cáo Hồ V, Hồ Thị N bồi thường thiệt hại số tiền là 166.516.110 đồng.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam đã truy tố các bị cáo Hồ V, Hồ Thị N về tội “Hủy hoại rừng” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; các điểm b, m, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Hồ V từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; các điểm b, m, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt: bị cáo Hồ Thị N từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy: 01 cái rựa dài 54cm, cán bằng gỗ dài 31cm, lưỡi bằng sắt dài 23cm; 01 cái rựa dài 55cm, cán bằng gỗ dài 33cm, lưỡi bằng sắt dài 22cm. Về dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả số tiền là 5.000.000 đồng. Số tiền còn lại cần buộc các bị cáo Hồ V, Hồ Thị N có trách nhiệm tiếp tục bồi thường thiệt hại cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Quảng Nam là 161.516.110 đồng.

Tại phiên tòa, các bị cáo Hồ V, Hồ Thị N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa cho các bị cáo Hồ V, Hồ Thị N thống nhất với Cáo trạng, cũng như quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về việc truy tố hành vi phạm tội của các bị cáo, việc đề nghị áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo Hồ V cho rằng bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi 04 con nhỏ, nếu bắt bị cáo đi chấp hành án tù thì gia đình lâm vào hoàn cảnh khó khăn đặc biệt. Bị cáo là dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nguyên nhân phạm tội do gia đình bị cáo không có đất để sản xuất. Bên cạnh đó là sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan chức năng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không nhất thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cần giao cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ ren đe, giáo dục bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo Hồ Thị N cho rằng, bị cáo do thiếu hiểu biết, đi phá rừng theo sự chỉ dẫn của chồng. Nghề nghiệp chính của các bị cáo làm nông, nhưng không có đất nên các bị cáo mới có ý định phát rừng để lấy đất sản xuất. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa, nguyên đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn dân sự nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra và được lưu giữ trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về hành vi phạm tội:

Khoảng cuối tháng 3/2024, Hồ V cùng vợ là Hồ Thị N sử dụng rựa lên khoảnh 09, tiểu khu 530 thuộc Thôn TN, xã P, huyện H, tỉnh Quảng Nam để phát rừng trái phép. Sau đó, Hồ V sử dụng máy cưa xăng hạ cây thân gỗ lớn trên diện tích rừng đã phát. Đến ngày 09/5/2024, Hạt kiểm lâm huyện H phát hiện lập biên bản vụ việc. Diện tích rừng Hồ V, Hồ Thị N phá trái phép là rừng phòng hộ, với tổng diện tích bị hủy hoại là 4.662m2, trên diện tích này có 69 cây thân gỗ bị chặt hạ với trữ lượng là 31,883m3, có giá trị thiệt hại là 166.516.110 đồng.

Hành vi trên của các bị cáo Hồ V, Hồ Thị N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại rừng” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; vai trò, mức độ thực hiện hành vi của từng bị cáo thì thấy:

Rừng có một vai trò rất quan trọng đối với đời sống của con người cũng như nhiều loài động, thực vật. Luật Bảo vệ và phát triển rừng quy định bảo vệ rừng là trách nhiệm của toàn dân. Tuy nhiên, do thiếu hiểu biết, thiếu đất sản xuất các bị cáo đã thực hiện hành vi phá rừng tại khu vực rừng được quy hoạch là rừng phòng hộ. Hành vi này của các bị cáo đã gây thiệt hại về lâm sản và gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ rừng.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là đồng phạm giản đơn, vì vậy mỗi bị cáo phải chịu trách nhiệm tương ứng với hành vi và hậu quả gây ra. Đối với bị cáo Hồ V là người tham gia phát luỗng, ngoài ra còn sử dụng máy cưa để hạ các cây lớn nên vai trò, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo tham gia tích cực hơn bị cáo Hồ Thị N.

. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Các bị cáo tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, giáo dục phổ thông lớp 02/12, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Nguyên đơn dân sự yêu cầu giảm nhẹ hình phạt nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, m, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu, là người dân tộc thiểu số nên Hội đồng xét xử cần áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 quyết định cho các bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt do điều luật quy định.

Xét thấy vai trò bị cáo Hồ V trong vụ án tích cực nhất nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng ren đe, cải tạo, giáo dục bị cáo.

Xét thấy bị cáo Hồ Thị N vai trò không đáng kể, thực hiện hành vi phạm tội theo chỉ dẫn của bị cáo Hồ V. Bị cáo và bị cáo Hồ V là vợ chồng, hiện tại đang nuôi 04 con nhỏ nên cần tạo điều kiện cho bị cáo được nuôi dưỡng, giáo dục các con, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương cải tạo, giáo dục bị cáo là thể hiện tính nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước ta.

. Về trách nhiệm dân sự:

- Diện tích rừng mà các bị cáo hủy hoại là phòng hộ nên theo quy định Luật Lâm nghiệp thì Nhà nước là đại diện chủ sở hữu rừng. Vì vậy, xác định Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Quảng Nam bị thiệt hại về rừng là nguyên đơn dân sự.

- Trong quá trình giải quyết vụ án đại diện nguyên đơn dân sự có đơn yêu cầu các bị cáo Hồ V, Hồ Thị N liên đới bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội các bị cáo gây ra với số tiền tổng cộng là 166.516.110 đồng. Mỗi bị cáo bồi thường số tiền là 2.500.000 đồng. Số tiền còn lại là 161.516.110 đồng, nguyên đơn dân sự yêu cầu các bị cáo tiếp tục bồi thường. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các bị cáo thống nhất bồi thường toàn bộ số tiền thiệt hại còn lại nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các bên.

. Về hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án:

- Hành vi phạm tội của các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc làm một công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm nhưng xét thấy các bị cáo thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi 04 con nhỏ nên không áp dụng.

- Đối với 01 cái rựa dài 54cm, cán bằng gỗ dài 31cm, lưỡi bằng sắt dài 23cm thu của Hồ Thị N và 01 cái rựa dài 55cm, cán bằng gỗ dài 33cm, lưỡi bằng sắt dài 22cm thu của Hồ V là công cụ các bị cáo sử dụng để phá rừng trái phép, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với máy cưa xăng, Hồ V sử dụng phá rừng trái phép. Tuy nhiên sau khi cưa cây xong. V đã giấu máy cưa trong lán trại và bị mất, không tiến hành thu giữ được nên không có cơ sở giải quyết.

. Về án phí: Các bị cáo Hồ V, Hồ Thị N thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố các bị cáo Hồ V, Hồ Thị N phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; các điểm b, m, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Hồ V 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; các điểm b, m, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Hồ Thị N 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 19/12/2024).

Giao bị cáo Hồ Thị N cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện M, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

[2]. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; các Điều 584, Điều 587, Điều 589 của Bộ luật Dân sự.

Buộc các bị cáo Hồ V, Hồ Thị N có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Quảng Nam số tiền tổng cộng là 166.516.110 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước. Mỗi bị cáo bồi thường số tiền là 2.500.000 đồng. Số tiền còn lại, cần buộc các bị cáo tiếp tục bồi thường là 161.516.110 đồng (Bằng chữ: Một trăm sáu mươi mốt triệu, năm trăm mười sáu nghìn, một trăm mười đồng). Trong đó mỗi bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường số tiền là 80.758.055 đồng (Bằng chữ: Tám mươi triệu, bảy trăm năm mươi tám nghìn, không trăm năm mươi lăm đồng).

(Số tiền các bị cáo bồi thường theo các biên lai thu cùng ngày 29/10/2024 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Quảng Nam)

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[3]. Về biện pháp tư pháp, vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên: Tiêu hủy 01 cái rựa dài 54cm, cán bằng gỗ dài 31cm, lưỡi bằng sắt dài 23cm và 01 cái rựa dài 55cm, cán bằng gỗ dài 33cm, lưỡi bằng sắt dài 22cm.

(Các vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Quảng Nam theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 31/10/2024)

[4]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm cho các bị cáo Hồ V, Hồ Thị N.

[5]. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/11/2024). Người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

[6]. Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ