- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Võ Thị T xin được ly hôn với anh Đặng Văn Ý"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2024/HNGĐ-ST Ngày 26 – 01 – 2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tấn Lộc.
Bà Bùi Thị Thu Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 26 tháng 01 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 596/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 295/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị T, sinh năm 2003 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh C ..
- Bị đơn: Anh Đặng Văn Ý, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh C ..
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1967 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh C ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/10/2023 và các lời khai tại Tòa án chị Võ Thị T (nguyên đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Đặng Văn Ý chung sống với nhau vào năm 2022, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh Ý không quan tâm lo lắng gia đình, vợ chồng thường xuyên cự cãi và đã sống ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, nay chị yêu cầu ly hôn với anh Đặng Văn Ý.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Tại đơn khởi kiện, chị yêu cầu bà Nguyễn Thị X (mẹ chồng) đang giữ số vàng là 07 chỉ vàng 24k cho chị trong ngày cưới, yêu cầu bà X trả lại cho chị. Nay chị xin rút lại không yêu cầu bà X trả lại số vàng trên, chị sẽ tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ thu, nợ trả: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Đặng Văn Ý và bà Nguyễn Thị X, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu của chị Võ Thị T nhưng anh Ý và bà X không có ý kiến. Tòa án thông báo để anh Ý và bà X tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh Ý và bà X vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải giữa anh, chị được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Đặng Văn Ý và bà Nguyễn Thị X tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh Ý và bà X vắng mặt không lý do; nguyên đơn chị Võ Thị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Ý, bà X và chị T theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:
Tranh chấp giữa chị Võ Thị T với anh Đặng Văn Ý là tranh chấp hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Đặng Văn Ý có địa chỉ cư trú tại ấp Cái Giếng, xã Tân Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Võ Thị T và anh Đặng Văn Ý chung sống với nhau vào năm 2022, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 163/2022 ngày 14/10/2022 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Chị T yêu cầu được ly hôn với anh Ý, với nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, anh Ý không quan tâm lo lắng gia đình, vợ chồng thường xuyên cự cãi và đã sống ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay. Đối với yêu cầu này Hội đồng xét xử thấy rằng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử anh Ý không có ý kiến bằng văn bản hay trực tiếp tranh tụng tại phiên tòa để thể hiện quan điểm đối với yêu cầu của chị T, cũng như tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng cho anh. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh Ý đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh Ý là có căn cứ pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Chị T xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bà X phải trả lại số vàng là 07 chỉ vàng 24k. Xét thấy, việc chị T xin rút lại một phần nội dung yêu cầu khởi kiện là tự nguyện phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu chị T đã rút.
Về nợ thu, nợ trả: Chị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, 51, 53 và 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị T.
[1] Về hôn nhân: Chị Võ Thị T được ly hôn với anh Đặng Văn Ý.
[2] Về tài sản chung: Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của chị Võ Thị T, về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị X phải trả lại số vàng là 07 (bảy) chỉ vàng 24k.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị T phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.120.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009674 ngày 30/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước; chị T được hoàn trả lại số tiền chênh lệch là 820.000 đồng.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, chị Võ Thị T, anh Đặng Văn Ý và bà Nguyễn Thị X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục THADS cùng cấp; - Phòng KTNV&THA; - UBND xã Tân Hưng; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Hiền |