vanban.org

Bản án 20/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Huỳnh Thị Mỹ N kiện bà Nguyễn Thị H về việc "tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ trả cho bà Huỳnh Thị Mỹ N số tiền vốn vay: 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng). Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 7.000.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Huỳnh Thị Mỹ N kiện bà Nguyễn Thị H về việc "tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20 /2024/DS-ST
Ngày: 21 – 5 – 2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay
tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Danh

Ông Thạch Văn Hòa

- Thư ký Tòa án: Bà Đặng Tú Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Mộng Kiều – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 186/2024/TLST-DS, ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST- DS ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ N, sinh năm 1992 (Có mặt) Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971(Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn C, sinh 1973 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

2. Ông Nguyễn Văn T, sinh 1995 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/11/2023;biên bản lấy lời khai ngày

8/03/2024;cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ N trình bày:

Bà N có tham gia 01 dây hụi tháng do bà Nguyễn Thị H làm chủ hụi.

Dây hụi tháng: Mở ngày 10/01/2021, có 25 phần, mỗi phần 1.000.000 đồng, bà N tham gia một phần 01, hết cuối với số tiền là 24.000.000 đồng, nhưng đến nay bà H vẫn chưa giao tiền.

Ngày 13/04/2022 (âm lịch), bà Nguyễn Thị H và Nguyễn Văn H1 có vay số 195.000.000 đồng, lãi suất 3%/ tháng (có ghi giấy mượn tiền), bà H đóng lãi được 03 tháng (Từ ngày 13/04/2022 đến ngày 13/7/2022) là 17.550.000 đồng và trả vốn được 55.000.000 đồng, còn lại 140.000.000 đồng chưa trả. Sau đó bà H đóng lãi tiếp 03 tháng nữa (Từ ngày 14/7/2022 đến ngày 14/10/2022), mỗi tháng 4.200.000 đồng x 3 tháng = 12.600.000 đồng, rồi ngưng không trả vốn lãi nữa.

Nay bà N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà H trả tiền hụi và tiền vay 140.000.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà N yêu cầu buộc bà H trả tiền vay 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng).

Tại phiên tòa hôm nay, đại Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án, đảm bảo về thủ tục bắt đầu phiên tòa, tranh tụng tại phiên tòa theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đề xuất: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu của bà Huỳnh Thị Mỹ N về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả số tiền vay: 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn C, ông Nguyễn Văn T, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa, nhưng bà H,ông C, ông T đều vắng mặt; nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các ông, bà nêu trên.

Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện ngày 02/11/2023 của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị H trả tiền hụi và tiền vay 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng), nên khi thụ lý Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “ tranh chấp hợp đồng góp hụi và đòi lại tài sản”. Nhưng tại phiên tòa tòa sơ thẩm bà N chỉ yêu cầu buộc bà H trả lại số tiền vay 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng), nên Hội đồng xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Về nội dung: Bà Huỳnh Thị Mỹ N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị H trả lại số tiền vay 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị Mỹ N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà N yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả lại số tiền vay 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng) là có cơ sở. Vì bà N cung cấp được giấy mượn tiền của bà H ngày 13/4/2022. Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/3/2024, bà N xác định kiện bà H và chỉ yêu cầu bà H 140.000.000 đồng, chứ không có yêu cầu ông C, ông T (con bà H) cùng trả số tiền nêu trên, nên Hội đồng xét xử buộc bà H có nghĩa vụ trả cho bà N số tiền vay 140.000.000 đồng là có cơ sở.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận.

Từ những nhận định, phân tích trên, Hội đồng xét xử, xét thấy yêu cầu của bà Huỳnh Thị Ngọc M là có cơ sở chấp nhận. Do đó áp dung các Điều 280; Điều 463; khoản 1,5 Điều 466; Điều 468; khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ trả cho bà Huỳnh Thị Mỹ N số tiền vốn vay: 140.000.000 đồng là có căn cứ.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 7.000.000 đồng của số tiền (140.000.000đ x 5% = 7.000.000 đồng).

Bà Huỳnh Thị Mỹ N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà N 3.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0000655 ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1

Điều 39; điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 147; Khoản 1 Điều 273; Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng Điều 280; Điều 463; khoản 1,5 Điều 466; Điều 468; khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Huỳnh Thị Mỹ N kiện bà Nguyễn Thị H về việc "tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

2. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ trả cho bà Huỳnh Thị Mỹ N số tiền vốn vay: 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng).

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 7.000.000 đồng.

Bà Huỳnh Thị Mỹ N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà N 3.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0000655 ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

4. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bà Huỳnh Thị Mỹ N có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Nguyễn Thị H còn phải trả lãi cho bà Huỳnh Thị Mỹ N theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sư năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ