vanban.org

Bản án 20/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 12/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo TDN phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: TDN 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án và được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2022 đến ngày 07/8/2022. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: - 01 bì niêm phong A2 hoàn trả 0,1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tường Duy Ngọc - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo TDN phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HSST
Ngày 12/01/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Lành.

2. Ông Trần Xuân Viện.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thái, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 12/01/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 495/2022/HSST ngày 28/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 488/2022/QĐXXST-HS ngày 02/12/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: TDN ; Sinh ngày 12 tháng 12 năm 1964; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ dân phố Tân Thành 2, phường Đ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ở hiện tại: Tổ 1, phường T, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Tường Duy S, đã chết; Con bà: Hoàng Thị T, sinh năm 1930; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ 02; Từ năm 1989 đến năm 2000, bị cáo đang chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1968; Có 01 con, sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: 02. + Tại bản án số 222 ngày 27/10/1993 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong bản án ngày 30/9/2009. + Tại bản án số 142/HSST ngày 23/7/2004 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong bản án ngày 16/5/2016.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2022 đến ngày 07/8/2022 được hủy bỏ biện pháp tạm giam và áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt tại phiên tòa).

Ngƣời chứng kiến: 1. Ông NTL, sinh năm 1964. (Vắng mặt).

Trú quán: Tổ 11, phường CG, thành phố Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 15 giờ 15 phút ngày 14/7/2022, tổ công tác của Công an phường CG phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 04 của phường HS thì phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác áp sát và yêu cầu kiểm tra, người đàn ông trên khai tên là TDN và tự giác lấy ra từ túi áo ngực phía bên trái N đang mặc 01 gói giấy màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng. N khai đó là ma túy Heroine vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N, thu giữ vật chứng theo quy định.

Hồi 20 giờ 20 phút ngày 14/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên đã tiến hành cân xác định số chất bột màu trắng thu giữ của N có khối lượng 0,137 gam, ký hiệu A2 gửi giám định (BL: 59).

Tại bản Kết luận giám định số 1095/KL – KTHS ngày 22/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,137 gam (BL: 62).

Tại Cơ quan điều tra, TDN khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 14/7/2022, N đi xe ôm từ tổ 01, phường T, thành phố Thái Nguyên đến khu vực ngã ba TL, thành phố Thái Nguyên để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, N gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa Heroine với giá 100.000 đồng. Mua xong, N cất gói ma túy vào trong túi áo ngực phía bên trái N đang mặc và đi xe ôm về khu vực tổ 4, phường HS để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi N vừa xuống xe và vào quán uống nước thì bị tổ công tác của Công an phường CG và Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang như nêu trên.

Lời khai nhận của TDN phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định (BL: 55 - 56; 62 - 65).

*Vật chứng của vụ án: - 02 bì niêm phong ký hiệu A2, A3.

Hiện đang được bảo quản và lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Bản cáo trạng số 500/CT-VKSNDTPTN ngày 27/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố TDN về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, trong phần luận tội đối với bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo TDN phạm tội Tàng trữ trái phép ma túy. Đề nghị: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt TDN mức án từ 21 đến 24 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định..

Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Trong phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Im lặng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1] .Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và những chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 15 giờ 15 phút ngày 14/7/2022 tại tổ 4, phường HS, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, TDN có hành vi tàng trữ 0,137 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường CG phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Đánh giá của Hội đồng xét xử: Bị cáo là người đủ năng lực hành vi trách nhiệm dân sự và biết ma túy là vật cấm và được Nhà nước quản lý nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép ma túy là 0,137 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều 249 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, ....

c, Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam"

Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.

Xét tính chất mức độ của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương và là một trong các nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác..

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị Tòa án xét xử bằng bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí theo quy định. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, lại nghiện ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bố mẹ ruột của bị cáo N là ông Tường Duy S và bà Hoàng Thị T là người có công với cách mạng và được nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến chiến chống Mỹ cứu nước, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào..

Quá trình điều tra và xét xử hồ sơ thể hiện bị cáo sức khỏe yếu do đang điều trị mắc bệnh viêm phổi/HIV suy kiệt, do đó khi lượng hình cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án từ 13 đến 15 tháng tù là phù hợp..

Vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy - 02 bì niêm phong ký hiệu A2, A3.

Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, N khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực ngã ba T, thành phố Thái Nguyên để sử dụng cho bản thân. Qúa trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ của người này, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.

Về hình phạt bổ sung và án phí: - Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo. Tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản và thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

1. Bị cáo TDN phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

2. Xử phạt: TDN 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án và được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2022 đến ngày 07/8/2022.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: - 01 bì niêm phong A2 hoàn trả 0,125gam mẫu A2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A2. - 01 bì niêm phong ban đầu ký hiệu A3.

(Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên theo tình trạng biên bản giao nhận vật chứng số 81 ngày 08/11/2022).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo TDN phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ