vanban.org

Bản án 20/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 24/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Quốc T 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 24 tháng 02 năm 2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử dưới khung hình phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH KHÊ
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HSST
Ngày: 24/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Bảo Huyền Trân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Nhớ

Ông Phạm Thuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST–HS ngày 09 tháng 02 năm 2023 đối với:

*Bị cáo: HOÀNG QUỐC T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 27 tháng 12 năm 1970 tại thành phố Đà Nẵng; Số CCCD: 048070001270; Cấp ngày: 01/5/2021; Nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Nơi ĐKHKTT: K136/28 đường H, thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: K18/11 đường P, phường T1, quận K, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng N (chết) và bà Lê Thị C (chết). Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ tư. Có vợ là Tạ Thúy V (sinh năm: 1973), có 02 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2003.

Tiền án, tiền sự: Chưa

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Lê Thị M, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số 32 đường Đ, phường X, quận K, thành phố Đà Nẵng. (đã chết do tai nạn).

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số 32 đường Đ, phường X, quận K, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 15/8/2022, sau khi sử dụng bia, rượu, Hoàng Quốc T điều khiển xe mô tô BKS 43X6-0476 lưu thông trên đường N hướng thuận chiều từ quận C về quận L. Khi đến giao lộ N – H, thuộc phường X, quận K, thành phố Đà Nẵng do T trong tình trạng say rượu, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ, xe mô tô không có đèn chiếu sáng phía trước nên T không phát hiện thấy, tông vào bà Lê Thị M đang đi bộ qua đường, tại làn đường dành cho xe ô tô-xe máy. Hậu quả: Bà M ngã xuống đường, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đà Nẵng. Đến 06 giờ ngày 16/8/2022 thì bà M tử vong.

Kết luận giám định số: 93 ngày 07/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Nguyên nhân chết của bà Lê Thị M là do đa chấn thương.

Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn đối với Hoàng Quốc T có kết quả 0,433mg/l. Qua xác minh T có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định.

* Khám nghiệm hiện trường ghi nhận:

Hiện trường vụ tai nạn là đường N đoạn giao nhau với đường H1, ở chiều đường xe chạy thuận chiều hướng từ phía quận C về quận L thuộc phường X, quận K, thành phố Đà Nẵng. Đoạn xảy ra tai nạn là đoạn đường đôi, thẳng, phẳng; ở giữa có dải phân cách cố định chia đường làm hai chiều xe chạy riêng biệt. Tại đường N, đoạn trước khi vào giao lộ có bố trí hệ thống đèn tín hiệu điều khiển giao thông, vạch kẻ dành cho người đi bộ.

Điểm mốc lấy mép ngoài cùng của đầu dải phân cách trên đường N (dải phân cách về phía quận C) làm mốc để đo vẽ hiện trường. Từ mép ngoài cùng của đầu dải phân cách cố định trên đường N (dải phân cách về phía quận C) đo vuông góc về phía quận L 4,5m là ngang với vị trí đánh dấu đầu nạn nhân là bà M (1).

Mép đường chuẩn là lấy mép đường bên phải của đường N, tính theo hướng xe chạy thuận chiều từ phía quận C về quận L làm mép đường chuẩn để đo vẽ hiện trường.

Vị trí (1) được đánh dấu bằng phấn trắng, nằm ở giữa đường. Đầu nạn nhân hướng về phía quận L, chân nạn nhân hướng về phía quận C. Đầu nạn nhân cách mép đường chuẩn 5,8m, chân nạn nhân cách mép đường chuẩn 5,8m. Vị trí đánh dấu đánh dấu đầu nạn nhân là bà M (1) ngang với vị trí đánh dấu đầu nơi ông T (2).

Vị trí (2) được đánh dấu bằng phấn trắng, nằm ở giữa đường và nằm bên phải của vị trí đánh dấu nạn nhân là bà M (1) (tính theo hướng từ phía C về L). Đầu ông T té ngã (2) hướng về phía quận C và chếch nhẹ về phía mép đường chuẩn, chân hướng về phía quận L. Đầu ông T té ngã cách mép đường chuẩn 3,9m, chân ông T té ngã cách mép đường chuẩn 4,7m. Tại vị trí đánh dấu (2) có vết dịch màu đỏ thẩm để lại trên mặt đường (nghi là máu) với hình dạng phức tạp, có kích thước 56x15cm. Từ vị trí đánh dấu (2) đo vuông góc về phía quận L 1,6m là ngang với vị trí balo màu đen nằm lên trên một túi nilong màu trắng nằm ở giữa đường và ở bên phải của vị trí (2) (tính theo hướng C về L). Vị trí ba lô và túi nilong cách mép đường chuẩn 3,5m. Từ vị trí balo và túi nilong đo vuông góc về phía quận L 5m là ngan với tâm trục bánh sau của xe mô tô BKS 43X6 – 0476.

Xe mô tô BKS 43X6 – 0476 ngã về bên trái tại giữa giao lộ N – H, đầu xe hướng về quận L, đuôi xe hướng về quận C. Tâm trục bánh trước của xe cách mép đường chuẩn 6,6m, tâm trục bánh sau của xe cách mép đường chuẩn 6,7m. Từ ngang, dưới, giữa vị trí xe mô tô BKS 43X6 – 0476 về phía quận C là vết xước để lại trên mặt đường.

Vết xước để lại trên mặt đường dài 2,8m, liên tục, có dạng thẳng, chiều hướng từ phía C về L. Điểm bắt đầu của vết cách mép chuẩn 6,4m, điểm kết thúc của vết xước nằm bên dưới, giữa vị trí xe mô tô BKS 43X6 – 0476 ngã tại hiện trường.

*Khám nghiệm xe mô tô BKS 43X6 – 0476.

Ốp nhựa đồng hồ hiển thị tốc độ bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu.

Ốp nhựa bảo vệ đầu xe bị bể vỡ rời hoàn toàn khỏi vị trí ban đầu đồng thời làm lộ dây điện, thiết bị bên trong.

Mặt ngoài hệ thống dây điện phía trước thân xe phát hiện dấu vết mất bụi hướng từ trước về sau trên diện (36x20)cm. Điểm cao nhất cách đất 1m, điểm thấp nhất cách đất 64cm.

Mặt ngoài, phía trước khung kim loại càng tay lái bên phải có vết sạch bụi hướng từ trước về sau kích thước (6x3)cm. Điểm giữa cách đất 95cm.

Mặt ngoài phía trước cụm hộp dầu tay phanh bên phải, chốt giữ đầu cần tay phanh bên phải có vết sạch bụi hướng từ trước về sau kích thước (8x5)cm. Điểm giữa cách đất 1m.

Mặt ngoài đoạn dưới càng phụt dưới trước bên trái có vết ma sát làm khuyết kim loại hướng từ trước về sau kích thước (2x0,5)cm.

Mặt ngoài đoạn cuối bê gác để chân bên trái người điều khiển có vết ma sát, khuyết nhựa hướng từ trước về sau kích thước (3x0,5)cm.

Mặt ngoài đầu cần bàn đạp chân chống giữa có vết ma sát, khuyết kim loại hướng từ trước về sau kích thước (1,5x0,3) cm.

Mặt ngoài bàn đầu cần đạp máy (trong trạng thái đóng) có vết ma sát, khuyết kim loại hướng từ trước về sau kích thước (3x1,5)cm.

Xe nổ máy, hệ thống còi, đèn chuyển hướng phía trước, hệ thống phanh hoạt động.

Xe bị bể vỡ hoàn toàn ốp nhựa phía trước thân xe, toàn bộ yếm chắn gió hai bên, chắn bùn trước phía trước, ốp nhựa bảo vệ hai bên thân xe.

Xe không có hệ thống đèn chiếu xa gần.

*Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô BKS: 43X6 – 0476. Qua xác minh xe do bà Phạm Thị Thu H1 đứng tên chủ sở hữu. Bà H1 tặng cho xe này cho ông T làm phương tiện đi lại, chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ: Chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng quản lý.

- 01 giấy phép lái xe số K580926 hạng A1 do Sở Giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 22/3/2003 cho Hoàng Quốc T.

- 01 túi nylong thu giữ tại hiện trường vụ tai nạn giao thông. Ngày 31/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê đã trả lại cho ông Nguyễn Ngọc S là người đại diện hợp pháp của nạn nhân Lê Thị M.

- 01 ba lô thu giữ tại hiện trường. Ngày 31/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả cho chủ sở hữu là Hoàng Quốc T.

*Tại Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 19/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Hoàng Quốc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Hoàng Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Hoàng Quốc T mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho gia đình người bị hại nên Viện kiểm sát không đề cập đến.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

- Trả 01 xe mô tô BKS 43X6-0476 cho bị cáo Hoàng Quốc T nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả 01 giấy phép lái xe số K580926 hạng A1 do Sở Giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 22/3/2003 mang tên Hoàng Quốc T.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối hận, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại điện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin lỗi gia đình người bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Quốc T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 15/8/2022, tại giao lộ N - H, thuộc phường X, quận K, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Hoàng Quốc T có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định điều khiển xe mô tô BKS 43X6-0476 mà trong máu có nồng độ cồn lưu thông trên đường N hướng thuận chiều từ phía quận C về quận L do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ, xe mô tô không đèn chiếu sáng phía trước, không phát hiện thấy nên đã tông vào bà Lê Thị M đang đi bộ qua đường làm bà M ngã xuống đường. Hậu quả: Bà Lê Thị M tử vong do đa chấn thương.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hoàng Quốc T đã phạm vào tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự thuộc tình tiết định khung là “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma tuý hoặc chất kích thích mạnh khác” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 19/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh khê đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Nguyên nhân trực tiếp gây ra vụ tai nạn lỗi là do bị cáo Hoàng Quốc T khi tham gia giao thông đường bộ, đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ, xe mô tô không đèn chiếu sáng phía trước, đồng thời bị cáo có nồng độ cồn trong máu nhưng vẫn điều khiển phương tiện tham gia giao thông, vi phạm khoản 23 Điều 8, khoản 3 Điều 10, khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ Việt Nam và khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tính mạng của bà Lê Thị M mà còn xâm phạm đến trật tự giao thông đường bộ Việt Nam, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi mà các vụ tai nạn giao thông ngày một gia tăng, ý thức chấp hành Luật Giao thông của nhân dân có phần hạn chế, gây hoang mang, lo lắng cho người tham gia giao thông trên đường bộ.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bản thân bị cáo trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, thật sự ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; ông Nguyễn Ngọc S là đại diện gia đình nạn nhân có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử đã xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Do vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Hoàng Quốc T được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử dưới khung hình phạt. Bị cáo T có nơi cư trú ổn định, bị cáo bị mất sức lao động, sức khoẻ yếu do di chứng bị tông xe trong vụ tai nạn trước đây nên thường xuyên phải nhập viện, con gái của bị cáo bị bệnh ung thư, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo là người có khả năng tự cải tạo và nếu không phải bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật nên chưa đến mức độ phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà chỉ áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Như vậy cũng đủ điều kiện để cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về tội danh và các điều luật áp dụng cũng như đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 180.000.000đ. Ông Nguyễn Ngọc S – đại diện gia đình nạn nhân đã nhận và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô BKS: 43X6 – 0476. Qua xác minh xe do bà Phạm Thị Thu H1 đứng tên chủ sở hữu. Bà H1 tặng cho bị cáo xe này cho bị cáo Thịnh làm phương tiện đi lại nên cần tuyên trả xe lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng).

- Đối với 01 giấy phép lái xe số K580926 hạng A1 do Sở Giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 22/3/2003 mang tên Hoàng Quốc T cần tuyên trả lại cho bị cáo T.

Đối với 01 túi nylong thu giữ tại hiện trường vụ tai nạn giao thông. Ngày 31/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê đã trả lại cho ông Nguyễn Ngọc S là người đại diện hợp pháp của nạn nhân Lê Thị M.

Đối với 01 ba lô thu giữ tại hiện trường. Ngày 31/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê đã trả cho chủ sở hữu là bị cáo T.

Xét thấy là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

Án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ban hành ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Quốc T 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 24 tháng 02 năm 2023).

Giao bị cáo về nơi bị cáo đang cư trú là Uỷ ban nhân dân phường T1, quận K, thành phố Đà Nẵng để tiếp tục giám sát và giáo dục. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

- Trả 01 xe mô tô BKS 43X6-0476 cho bị cáo Hoàng Quốc T nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng).

- Trả 01 giấy phép lái xe số K580926 hạng A1 do Sở Giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 22/3/2003 mang tên Hoàng Quốc T.

3. Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ban hành ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hoàng Quốc T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 24/02/2023).

(Đã giải thích về án treo)

Cỡ chữ