vanban.org

Bản án 20/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Tuyên án 31/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Đánh bạc”

*Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 17; Điều 58; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Xử phạt bị cáo Nguyễ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "C - đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HSST
Ngày 31/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Lan Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Hữu Quang

2. Ông Nguyễn Xuân Thanh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà:

Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên

Ngày 31/3/2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn C, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày 01/01/1973.

Nơi thường trú: thôn TS, xã Q, huyện ĐH, tỉnh TB.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 07/12.

Con ông: Nguyễn Văn X, đã chết. Con bà: Trần Thị R, đã chết.

Vợ: Trần Thị H, sinh năm 1971

Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1999.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bị cáo là người có sổ động kinh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ĐH đã trưng cầu giám định Viện pháp y tâm thần Trung ương để xác định tình trạng tâm thần đối với C. Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 390/KLGĐ ngày 13/12/2022 của Viện pháp y tâm thần Trung ương đã kết luận: “Trước, trong, sau khi phạm tội ngày 02/9/2022 và tại thời điểm giám định, Nguyễn Văn C bị bệnh động kinh toàn thể cơn lớn. Chưa có biến đổi nhân cách. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số G40.6. Tại các thời điểm trên C đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/9/2022 đến 07/9/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C:

Ông Phạm Hữu L và ông Phạm Hữu G - là luật sư của Văn phòng luật sư Phạm Hữu L và Cộng sự - Đoàn luật sư tỉnh TB.

Địa chỉ: SN 371, đường Đ, phường Đ - Thành phố TB, tỉnh TB.

* Người làm chứng:

1. Đào Duy T , sinh năm 1989

Nơithường trú: Thôn TQ, xã Q,huyện ĐH,tỉnhTB.

2. Nguyễn Văn T1, sinh năm 1991

Nơithường trú: Thôn TQ, xã Q,huyện ĐH,tỉnhTB.

3. Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1990

Nơithường trú: Thôn TS,xã Q,huyện ĐH,tỉnh TB.

4. Trần Quang H1, sinh năm 1990

Nơi thường trú: Thôn MK, xã ĐT, huyện KC, tỉnh Y.

5. Nguyễn Văn N, sinh năm 1984

Nơithường trú: Thôn TS,xã Q,huyện ĐH,tỉnh TB.

6. Vũ Quang T2, sinh năm 1962

Nơithường trú: Thôn TS,xã Q,huyện ĐH,tỉnh TB.

7. Nguyễn Văn K, sinh năm 1999

Nơithường trú: Thôn TS,xã Q,huyện ĐH,tỉnh TB.

(Tại phiên tòa có mặt ông L, ông G. Vắng mặt những người làm chứng)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 02/9/2022, tại chỗ ở của Nguyễn Văn C Cơ quan Công an huyện ĐH, tỉnh TB phối hợp với Công an xã Q, huyện ĐH bắt quả tang Đào Duy T , Nguyễn Văn T1, Vũ Quang T2, Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Văn N và Trần Quang H1, đang đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” thắng thua bằng tiền. Cơ quan Công an huyện ĐH đã thu giữ, quản lý trên chiếu bạc 01 bộ bài tú lơ 52 quân; 4.500.000 đồng; tại gầm giường sát chỗ các bị cáo ngồi đánh bạc 7.100.000 đồng; quản lý trên người Nguyễn Văn C số tiền 200.000 đồng; trên người Đào Duy T 3.360.000 đồng; trên người Nguyễn Văn K số tiền 420.000 đồng đồng thời lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Trong quá trình bắt giữ, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Văn N bỏ chạy khỏi nơi đánh bạc. Đến 15 giờ 15 phút cùng ngày, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Xuân Đ ra đầu thú; ngày 05/9/2022, Nguyễn Văn N ra đầu thú

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn C, Đào Duy T , Trần Quang H1, Nguyễn Văn K, Vũ Quang T2, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Văn N khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 02/9/2022, do có quen biết với Nguyễn Văn K nên Nguyễn Văn T1, Đào Duy T và Nguyễn Xuân Đ rủ nhau đến chỗ ở của K để đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Liêng”. Đào Duy T là người đến nhà K trước; Nguyễn Văn T1 về nhà lấy bộ bài tú lơ khơ 52 quân mang sang nhà K. Khi Nguyễn Văn T1 đến nhà K được khoảng 01 phút thì Nguyễn Xuân Đ đến. Lúc này tại nhà K chỉ có Nguyễn Văn C (là bố K, chủ nhà) ở nhà. Đào Duy T , Nguyễn Văn T1 và Đ cùng nói với Nguyễn Văn C: “Cho bọn cháu vào chơi nhé”, C hiểu ý là Đào Duy T , Nguyễn Văn T1 và Đ hỏi cho đánh bạc nhờ tại nhà mình nên đồng ý. Lúc này khoảng 07 giờ 30 phút ngày 02/9/2022, Đào Duy T , Nguyễn Văn T1 và Đ vào gian buồng nhà C đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Liêng”. Khi cả ba đánh bạc được khoảng 15 phút thì C đi vào gian buồng nói với ba người: “Anh em cho xin tiền quét nhà”, ý C là cho xin tiền hồ. Đào Duy T và Nguyễn Văn T1 nghe thấy C nói vậy nên mỗi người lấy 100.000 đồng đưa cho C. Đ nói với C: “Chú ra ngoài trông cho tý”, C nghe và hiểu ý là ra ngoài canh coi hộ nên đã đi ra ngoài sân canh coi. Khi cả ba đánh bạc đến khoảng 09 giờ cùng ngày thì Trần Quang H1 (là bạn của K) đến tham gia đánh bạc cùng. Khoảng 30 phút sau thì K về nhà ngồi xem đánh bạc. Trong quá trình đánh bạc, H1 đi vệ sinh nên K cầm bài đánh hộ 02 ván. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày thì Vũ Quang T2 và Nguyễn Văn N đến cùng tham gia đánh bạc. Cách thức, phương pháp các bị cáo đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” thắng thua bằng tiền như sau: Mỗi ván bài, người chơi được chia 03 quân bài và bỏ ra 50.000 đồng gọi là tiền “Gà”. Sau khi được chia 03 quân bài, người chơi sẽ xem bài và giữ bí mật, không để lộ bài cho những người cùng chơi biết. Sau đó người chia bài bắt đầu tố, những người đánh bạc còn lại có thể theo (Đặt tiền cược đúng bằng số tiền tố; mức tố thấp nhất là 50.000 đồng, mức tố cao nhất là 300.000 đồng nếu xác định bài mình lớn có thể thắng những người chơi còn lại, không giới hạn số vòng tố); nếu ai không tố theo thì úp bài (Nếu cảm thấy bài của mình quá nhỏ, không thể thắng). Nếu đã úp bài thì người chơi sẽ bị mất đi số tiền “Gà” ban đầu và kết thúc ván bài tại đó. Bài lớn được tính theo thứ tự như sau: Lớn nhất là “Sáp” tức là ba lá bài cùng số. Trong “Sáp”, thứ tự “Sáp” từ bé đến lớn được tính như sau: Sáp 222; 333;......JJJ...; KKK; AAA. Trong trường hợp có nhiều người chơi có “Sáp” thì đọ “Sáp”. Ai có “Sáp” cao hơn thì người đó sẽ thắng. Nếu ai có “Sáp” và thắng ván bài đó thì những người chơi còn lại phải trả thêm cho người có “Sáp” và thắng ván bài đó 200.000 đồng. Lớn thứ hai là “Liêng” hay còn gọi là “Đồng hoa”. “Liêng” tức là ba lá bài cùng chất liên tiếp nhau. Trong “Liêng”, thứ tự “Liêng” từ bé đến lớn được tính như sau: A23; 234; ......QKA. Trong trường hợp có nhiều người chơi có “Liêng” thì đọ “Liêng”. Ai có “Liêng” cao hơn thì người đó sẽ thắng. Trong trường hợp “Liêng” bằng nhau thì đọ chất tính từ bé đến lớn là “Bích, tép, cơ, rô”, ai có chất lớn hơn thì thắng. Nếu ai có “Liêng” và thắng ván bài đó thì những người chơi còn lại phải trả thêm cho người có “Liêng” và thắng ván bài đó 100.000 đồng. Lớn thứ ba là “Ảnh”, tức là cả ba lá bài đều có quân hình người, không phải là sáp; liêng và được xếp thứ tự từ bé đến lớn là J; Q; K. Trong trường hợp có nhiều người có “Ảnh” thì đọ chất, nếu ai có chất lớn hơn thì người đó là người thắng. Lớn thứ tư là tính điểm, trong đó các quân bài 10; J; Q; K được tính bằng không. Các quân bài 2;3;4;5;6;7;8;9 được tính tương đương với 2;3;4;5;6;7;8;9 điểm; quân A được tính 01 điểm. Cách tính điểm: Lấy ba quân bài cộng với nhau được tổng chia cho 10; số dư là điểm. Khi những người chơi có điểm bằng nhau thì đọ chất, nếu ai có chất lớn hơn thì người đó là người thắng, tính từ bé đến lớn là “Bích, tép, cơ, rô”.

Bị cáo Nguyễn Văn C khai: Thu tiền hồ 200.000 đồng của Đào Duy T và Nguyễn Văn T1 cho vào túi quần trước bên trái, khi lực lượng Công an bắt quả tang đã quản lý số tiền 200.000 đồng.

Đào Duy T khai mang theo 3.200.000 đồng, nộp tiền hồ cho Nguyễn Văn C 100.000 đồng, còn 3.100.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, khi bị bắt đang thắng 260.000 đồng, đã cất toàn bộ số 3.360.000 đồng vào túi quần trước bên trái và bị lực lượng Công an quản lý. Nguyễn Văn T1 khai mang theo 1.660.000 đồng, nộp tiền hồ cho Nguyễn Văn C 100.000 đồng, còn 1.560.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, khi bị bắt không rõ thắng thua thế nào, để lại toàn bộ tiền dưới chiếu, bỏ chạy thoát khỏi nơi đánh bạc. Vũ Quang T2 khai mang theo 300.000 đồng sử dụng vào đánh bạc, khi lực lượng Công an bắt thì vừa thua hết. Nguyễn Xuân Đ khai mang theo 1.400.000 đồng sử dụng vào đánh bạc, khi bị bắt không rõ thắng thua thế nào, để lại toàn bộ tiền dưới chiếu, bỏ chạy thoát khỏi nơi đánh bạc. Nguyễn Văn N khai mang theo 2.000.000 đồng sử dụng vào đánh bạc, khi lực lượng Công an bắt, đang thua 1.000.000 đồng, đã cầm theo số tiền 1.000.000 đồng bỏ chạy thoát khỏi nơi đánh bạc. Sau đó ra đầu thú nộp số tiền 1.000.000 đồng cho Cơ quan điều tra. Trần Quang H1 khai mang theo 7.600.000 đồng, mục đích sử dụng 1.500.000 đồng vào việc đánh bạc, bỏ ra trước 500.000 đồng đánh bạc, nếu thua hết số tiền 500.000 đồng sẽ bỏ ra 1.000.000 đồng để đánh bạc. Trong quá trình đánh bạc, bản thân đi vệ sinh nên K cầm bài đánh hộ 02 ván, mỗi ván 50.000 đồng và đều thua. Khi bị bắt không rõ thắng thua thế nào, do hoảng sợ nên đã giấu 7.100.000 đồng vào gầm giường cạnh nơi đánh bạc và bị lực lượng Công an quản lý. Nguyễn Văn K khai không dùng tiền của bản thân đánh bạc, ngồi xem. Trong quá trình đánh bạc, bị cáo Trần Quang H1 đi vệ sinh nên K cầm bài đánh hộ 02 ván, mỗi ván 50.000 đồng và đều thua.

Như vậy tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là: 9.860.000 đồng (Chín triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng). Số tiền còn lại 6.100.000 đồng của H1 và 420.000 đồng của K không sử dụng vào việc đánh bạc.

Quá trình đánh bạc bị cáo Nguyễn Văn C canh coi, bảo vệ, thu tiền hồ 200.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 19/VKSĐH ngày 10/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố.

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Đánh bạc”

*Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; điểm s,i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 31/3/2023. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Luật sư L, Luật sư G đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ là điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự do bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Bị cáo Nguyễn Văn C nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện ĐH, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa như:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện ĐH lập; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ;

Lời khai của Đào Duy T , Trần Quang H1, Vũ Quang T2; Nguyễn Văn T1 ; Nguyễn Xuân Đ , Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn K.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn C phù hợp với lời khai của Đào Duy T , Trần Quang H1, Nguyễn Văn K, Vũ Quang T2, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Văn N và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 07 giờ 30 phút đến 13 giờ 30 phút cùng ngày 02/9/2022, tại chỗ ở của Nguyễn Văn C thuộc địa phận thôn TS, xã Q, huyện ĐH, tỉnh TB, Nguyễn Văn C là chủ nhà đã thu tiền hồ 200.000 đồng và đồng ý cho các đối tượng Đào Duy T , Trần Quang H1, Vũ Quang T2, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn K đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh Liêng với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 9.860.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Điều 321. Tội đánh bạc:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

-------------

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất trật tự trị an xã hội, vì vậy việc xét xử bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết để giáo dục bị cáo và có tác dụng trong việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo thành khẩn khai báo; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, mẹ bị cáo được tặng thưởng huy chương của chủ tịch nước, bị cáo có sổ điều trị động kinh nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự như đề nghị của luật sư vì theo kết luận giám định pháp y tâm thần trung ương bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo như Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đề nghị là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ĐH đã quản lý trên chiếu bạc: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 4.500.000 đồng; quản lý tại gầm giường gian phòng ngủ 7.100.000 đồng; trên người Nguyễn Văn C 200.000 đồng; trên người Đào Duy T 3.360.000 đồng; trên người Nguyễn Văn K 420.000 đồng; Nguyễn Văn N tự nguyện giao nộp 1.000.000 đồng, đã được xử lý tại Bản án số 05/2023/HSST ngày 09/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Trong vụ án này, Đào Duy T , Nguyễn Văn T1, Nguyễn Xuân Đ; Trần Quang H1, Nguyễn Văn N, Vũ Quang T2, Nguyễn Văn K là những người đánh bạc đã bị Tòa án nhân dân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử tại Bản án số 05/2023/HSST ngày 09/02/2023.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Đánh bạc”

2. Áp dụng:

*Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 17; Điều 58; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 31/3/2023.

Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện ĐH, tỉnh TB giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phạt bổ sung bị cáo 3.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ