vanban.org

Bản án 20/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 23/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vũ T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt Nguyễn Vũ T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2023. Không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Vũ T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vũ T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HS-ST
Ngày 23/11/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bồ Thị Thái, bà Hà Thị Thanh Liêm.

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Tía, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Như Quỳnh, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2023/TLST-HS ngày 02/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HS ngày 13/11/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Vũ T, sinh ngày 19 tháng 7 năm 1994 tại huyện T, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản Đ, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Vũ Thị B; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/8/2020, Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Nghệ An quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng; Ngày 14/4/2021, Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An quyết định giảm thời hạn chấp hành 30 ngày; chấp hành xong ngày 12/6/2021, đã hết thời hạn để bị coi là bị xử lý vi phạm hành chính; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2023 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 25 phút ngày 06/8/2023, tổ công tác Công an phường Q làm nhiệm vụ tại khu vực đường H thuộc tổ 3, phường Q, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La bắt quả tang Nguyễn Vũ T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có cục, bột màu trắng (T lấy từ trong túi quần đang mặc ra nộp, khai nhận là ma túy Heroine của T cất giữ để sử dụng).

Ngày 06/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng. Kết quả cân tịnh số cục bột màu trắng có khối lượng 0,19 gam. Lấy 0,09 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu Đ. Còn lại 0,10 gam làm mẫu lưu kho, ký hiệu T.

Tại Kết luận giám định số 1882/KL-KTHS ngày 08/8/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Do điều kiện trang thiết bị và mẫu chuẩn được trang cấp còn thiếu, chưa xác định được mẫu gửi giám định có phải là chất ma túy hay không. Khối lượng mẫu gửi giám định 0,09 gam. Tổng khối lượng cục bột màu trắng thu giữ là 0,19 gam. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã có văn bản thông tin và đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La trưng cầu giám định bổ sung tại Viện Khoa học hình sự Bộ Công an.

Ngày 09/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La trưng cầu Viện Khoa học hình sự Bộ Công an giám định bổ sung đối với mẫu lưu kho T=0,10 gam.

Tại Kết luận giám định số 5922/KL-KTHS ngày 15/8/2023, Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine (là Heroin theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. (Đối tượng giám định hoàn lại gồm 0,04 gam chất bột màu trắng và các vỏ bao gói, đã được niêm phong theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định ngày 30/8/2023)

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Vũ T khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 06/8/2023, Nguyễn Vũ T đi taxi từ nhà ở bản Đ, xã P, huyện T đến thành phố Sơn La tìm việc làm nhưng không tìm được. Khi đi bộ dọc đường H thì gặp một thanh niên giống người nghiện ma túy nên đã hỏi, nhờ mua hộ ma túy sử dụng. Người đó đồng ý, T đưa 100.000 đồng, người thanh niên cầm tiền đi khoảng 10 phút thì quay lại đưa cho T 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có ma túy Heroine. T nhận, cất gói ma túy vào túi quần đang mặc, đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi đang trên đường H thuộc tổ 3 phường Q, thành phố Sơn La thì bị tổ công tác bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Đối với người mua hộ ma túy, T khai không biết họ tên, địa chỉ. Ngoài lời khai của T không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Bản cáo trạng số 542/CT-VKS ngày 02/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Nguyễn Vũ T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Vũ T từ 14 tháng đến 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: một phong bì Viện Khoa học hình sự Bộ Công an số 5922 được niêm phong dán kín, tại mép dán phong bì có dòng ghi họ tên, từ kho vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về quá trình tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi. Xét lời khai của bị cáo hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, biên bản đóng gói, niêm phong, giao nhận lại đối tượng giám định; các kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến. Do vậy, có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 06/8/2023, Nguyễn Vũ T thực hiện hành vi cất giữ trái phép chất ma túy 0,19 gam Heroine để sử dụng. Hành vi của bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Nguyễn Vũ T về tội danh, điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của nhà nước, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Về nhân thân bị cáo, năm 2020 đã bị đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Cần xử phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị và giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, thu nhập lao động tự do, không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng mẫu lưu kho chất ma túy còn lại sau khi giám định là 0,04 gam và các đồ vật liên quan, không còn giá trị sử dụng là các vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, đã được niêm phong trong 01 phong bì công văn của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an ghi số 5922/KL-KTHS.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vũ T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt Nguyễn Vũ T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2023.

Không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.

2. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn Viện khoa học hình sự - Bộ Công an số 5922/KL-KTHS, còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi : « Kính gửi: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La ».

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/11/2023 giữa Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Vũ T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ