vanban.org

Bản án 20/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 15/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Trung N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Bị cáo Trần Trung N 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, ngày 20/11/2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Trung N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Trung N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HS-ST
Ngày: 15/02/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - CAO BẰNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Kim Chi

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Trung Tuyến

2. Ông Đỗ Đức Dũng

- Thư ký phiên toà: Ông Vi Hoàng Tùng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2023/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Trung N (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 30 tháng 4 năm 1995 tại thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 14, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Tày; Quốc Tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Chức vụ Đảng, chính quyền đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Trần Thế C (đã chết); Con bà: Tô Thị T; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Về Nhân thân: Ngày 11/10/2010 bị Công an phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi Cố ý gây thương tích; Ngày 06/5/2017 Công an phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng từ ngày 20/11/2022 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 20 giờ 15 phút ngày 20/11/2022, tại khu vực tổ 13, phường T, thành phố Cao Bằng, tổ công tác Công an phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng phát hiện và bắt quả tang Trần Trung N (sinh năm 1995; trú tại Tổ 14, phường T, thành phố Cao Bằng) đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ:

+ 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (N khai nhận là ma túy đá) có khối lượng 0,14g Heroine, N tự giác giao nộp cho cơ quan công an;

+ 01 điện thoại di động màu đen, có chữ Nokia, số IMEI: 353846501196785, điện thoại cũ đã qua sử dụng;

+ 01 điện thoại di động màu hồng, có chữ Iphone, số IMEI: 353308078555521, điện thoại cũ đã qua sử dụng;

+ Tiền Viết Nam: 53.000đ (năm mươi ba nghìn đồng)

Ngày 21/11/2022, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 319 đối với vật chứng của vụ án. Tại kết luận giám định số 406/GĐMT ngày 28/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: "Mẫu chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methaphetamine".

Quá trình điều tra đủ căn cứ để xác định: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 20 giờ 00 phút ngày 20/11/2022, Trần Trung N đi bộ từ nhà đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng (thuộc tổ 13, phường T, thành phố Cao Bằng) để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây N gặp và hỏi mua 200.000đ ma túy đá với một người đàn ông không quen biết, trông giống người nghiện. N đưa tiền, người đàn ông đó nhận tiền và đưa lại cho N 01 túi nilon nhỏ bên trong có chứa ma túy đá, sau đó N đi xuống đường bờ kè thuộc tổ 13, phường T, thành phố Cao Bằng để tìm chỗ sử dụng thì bị Công an phường Tân Giang phát hiện và bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số vật chứng như đã nêu ở trên.

Tại bản cáo trạng số: 12/CTr - VKSTP ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Trần Trung N về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trần Trung N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Trung N. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Trần Trung N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Trần Trung N từ 13 - 16 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 246/GĐMT, mặt trước phong bì ghi: "Hoàn mẫu sau giám định vụ Trần Trung N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy" mặt sau phong bì có chữ ký của những người tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng, vì đây là Vật chứng Nhà nước cấm lưu hành;

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màu đen, có chữ Nokia, số IMEI: 353846501196785, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màu hồng, có chữ Iphone, số IMEI: 353308078555521, điện thoại cũ đã qua sử dụng, vì đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội;

Trả lại cho bị cáo tiền Việt Nam 53.000đ vì đây là tiền của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội.

Về án phí, đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của kiểm sát viên về tội danh và hình phạt. Khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy Methaphetamine của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua đó đã chứng minh được bị cáo Trần Trung N là người nghiện ma túy, hồi 20 giờ 15 phút ngày 20/11/2022 tại khu vực thuộc tổ 13, phường T, thành phố Cao Bằng, tổ công tác Công an phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng phát hiện và bắt quả tang Trần Trung N có hành vi tàng trữ trái phép 0,14 gam Methaphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại kết luận giám định số 406/GĐMT ngày 28/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: "Mẫu chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methaphetamine". Hành vi của bị cáo Trần Trung N đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

"Điều 249 .Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;

...

c). Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-

11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d). ..."

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo Trần Trung N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Methamphetamine là dạng ma túy Nhà nước độc quyền quản lý và nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt và sử dụng trái phép nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý nhằm mục đích phục vụ bản thân, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Trung N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Ngày 11/10/2010 bị Công an phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi Cố ý gây thương tích, Ngày 06/5/2017, Công an phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.

Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Trần Trung N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Methamphetamine là dạng ma túy Nhà nước độc quyền quản lý và nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt và sử dụng trái phép nhưng bị cáo do ham chơi, lười lao động, bản thân mắc nghiện ma túy và để có ma túy sử dụng cho bản thân bị cáo đã mua ma túy về để tàng trữ sử dụng. Do đó, để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, ngăn ngừa bị cáo tiếp tục phạm tội, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi bị cáo đã gây ra, đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian tiếp tục suy nghĩ, cải tạo bản thân, từ đó, nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm ma túy nói riêng.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về việc xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong số 246/GĐMT, mặt trước phong bì ghi: "Hoàn mẫu sau giám định vụ Trần Trung N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy" mặt sau phong bì có chữ ký của những người tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng, đây là Vật chứng Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 điện thoại di động màu đen, có chữ Nokia, số IMEI: 353846501196785, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màu hồng, có chữ Iphone, số IMEI: 353308078555521, điện thoại cũ đã qua sử dụng, đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần được trả lại cho bị cáo;

Đối với tiền Việt Nam 53.000đ, đây là tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần được trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Trần Trung N, do N không biết họ tên, địa chỉ và việc mua bán không có ai biết và chứng kiến. Do vậy, cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Trung N.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Trung N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Bị cáo Trần Trung N 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, ngày 20/11/2022.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 246/GĐMT, mặt trước phong bì ghi: "Hoàn mẫu sau giám định vụ Trần Trung N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy", mặt sau phong bì có chữ ký của những người tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng;

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màu đen, có chữ Nokia, số IMEI: 353846501196785, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màu hồng, có chữ Iphone, số IMEI: 353308078555521, điện thoại cũ đã qua sử dụng;

Trả lại cho bị cáo tiền Việt Nam 53.000đ.

Toàn bộ vật chứng trên hiện đang được lưu tại kho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng số 17 ngày 14/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng.

Về án phí: Áp dụng Điều 135 Của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc bị cáo Trần Trung N phải chịu nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung Ngân sách Nhà nước

Về thực hiện quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 15/02/2023.

Cỡ chữ