vanban.org

Bản án 20/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Tuyên án 17/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58 (đối với tất cả các bị cáo), điểm i khoản 1 Điều 51 (đối với Nguyễn Văn H2, Đào Xuân T); điểm g khoản 1 Điều 52 (đối với Đào Đình H1, Nguyễn Văn H), Điều 38 (đối với Nguyễn…

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn H, Đào Đình H1, Trần Đức H, Nguyễn Văn H2 và Đào Xuân T phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù, được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 09/11/2022 đến ngày 31/12/2022); thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H và đồng phạm - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58 (đối với tất cả các bị cáo), điểm i khoản 1 Điều 51 (đối với Nguyễn Văn H2, Đào Xuân T); điểm g khoản 1 Điều 52 (đối với Đào Đình H1, Nguyễn Văn H), Điều 38 (đối với Nguyễn…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TL
TỈNH HN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HS-ST
Ngày: 17 - 3 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL - TỈNH HN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Lại X Cảnh;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Ngọc Lung và bà Nguyễn Thị Mai.

- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Thế Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TL.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL tham gia phiên toà: ông Nguyễn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh HN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn H - sinh năm 1973; nơi cư trú: thôn TH, xã TT, huyện TL, tỉnh HN; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh Hán và bà Lê Thị Vinh; có vợ là Nguyễn Thị Thanh và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2022 đến ngày 31/12/2022 được tại ngoại, hiện đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.

2. Đào Đình H1 - sinh năm 1971; nơi cư trú: thôn DH, xã TT, huyện TL, tỉnh HN; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 05/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Hữu Q (đã chết) và bà Bùi Thị Y (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị V và có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2022 đến ngày 31/12/2022 được tại ngoại, hiện đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.

3. Nguyễn Văn H2 - sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn TH1, xã TT, huyện TL, tỉnh HN; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Chu Thị X; có vợ là Trần Thị B và có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2022 đến ngày 31/12/2022 được tại ngoại, hiện đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.

4. Đào Xuân T - sinh năm 1966; nơi cư trú: thôn TH, xã TT, huyện TL, tỉnh HN; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 4/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Đào Thị C và có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2022 đến ngày 31/12/2022 được tại ngoại, hiện đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.

5. Trần Đức H - sinh năm 1972; nơi cư trú: thôn LP, xã TT1, huyện TL, tỉnh HN; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức T (đã chết) và bà Lê Thị N; có vợ là Vũ Thị T và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: ngày 23/4/2020, bị Tòa án nhân dân huyện TL xử phạt 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong bản án ngày 28/02/2021; tiền sự: không; nhân thân: ngày 18/9/2018, bị Công an phường THĐ, thành phố PL, tỉnh HN xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/11/2022 đến ngày 18/11/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh HN; có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Đinh Văn T - sinh năm 1982; nơi cư trú: thôn NC, xã TT, huyện TL, tỉnh HN; có mặt.

2. Lê Văn T - sinh năm 1972; nơi cư trú: thôn NK, xã TN, huyện TL, tỉnh HN; có mặt.

3. Hà Văn T - sinh năm 1982; nơi cư trú: thôn TH, xã TT, huyện TL, tỉnh HN; có mặt.

4. Trịnh Ngọc V - sinh năm 1978; nơi cư trú: thôn NT, xã TT, huyện TL, tỉnh HN; có mặt.

5. Đào Văn C - sinh năm 1973; nơi cư trú: thôn BB, xã TT, huyện TL, tỉnh HN; có mặt.

6. Vũ Văn V - sinh năm 1981; nơi cư trú: thôn TH1, xã TT, huyện TL, tỉnh HN; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Đình H1 và Nguyễn Văn H đều không có hợp đồng làm đại lý bán xổ số với Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết HN, nhưng vẫn bán số lô, số đề trái phép cho khách chơi thông qua hình thức bán trực tiếp tại nhà và bán qua điện thoại di động, rồi tập hợp chuyển bảng cho chủ lô, đề để hưởng phần trăm hoa hồng. Cụ thể: đối với số bao lô, H1 bán cho khách giá 22.500 đồng/01 điểm, rồi chuyển lại cho chủ bảng theo H1 khai là Phạm Thế Việt - sinh năm 1995, trú tại thôn TH, xã TT, huyện TL, tỉnh HN với giá 21.800 đồng/01 điểm; đối với các số đề, 3 càng, lô xiên thì H1 hưởng 12% tổng số tiền bán được. H bán số bao lô cho khách quen giá 22.000 đồng/01 điểm, khách lạ không quen biết thì giá 22.500 đồng/01 điểm, rồi chuyển lại cho chủ bảng theo H khai là Trần Thị Lâm

- sinh năm 1969, trú tại Thôn 1 Tâng, xã Thanh Hương, huyện TL, tỉnh HN và Đào Đình H1 với giá 21.800 đồng/01 điểm; đối với các số đề, 3 càng, lô xiên thì H được hưởng 7% tổng số tiền bán được. Hình thức chơi và trúng thưởng như sau: căn cứ vào kết quả Xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày, nếu số bao lô khách mua trùng với hai số cuối của 27 giải, thì trúng thưởng với tỷ lệ 01 điểm được 80.000 đồng, nếu số bao lô khách mua trùng với 2 - 3 - 4 giải thưởng thì tỷ lệ trúng thưởng được nhân tương ứng với 2 - 3 - 4 lần. Ngoài ra, người chơi có thể mua lô xiên 2, xiên 3, xiên 4: người chơi chọn mua 2 - 3 - 4 cặp số tự nhiên bất kỳ gồm 2 số từ 00 đến 99. Nếu 2 - 3 - 4 cặp số đã mua trùng với 2 - 3 - 4 cặp số cuối của 27 giải, thì trúng với tỷ lệ 1 x 10 lần (đối với xiên 2), 1 x 40 lần (đối với xiên 3), 1 x 100 lần (đối với xiên 4). Đối với các số đề, nếu số đề khách mua trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt, thì trúng thưởng với tỷ lệ 1 x 70 lần. Đối với các số 3 càng, nếu số 3 càng khách mua trùng với 03 số cuối của giải đặc biệt, thì trúng thưởng với tỷ lệ 1 x 400 lần. Đào Đình H1 khai bắt đầu bán số lô, đề trái phép cho khách từ đầu năm 2022; Nguyễn Văn H khai bắt đầu bán số lô, đề trái phép cho khách từ đầu năm 2020. Những ngày khách mua số lô, đề với số tiền nhỏ, thì H1 và H không chuyển bảng cho chủ lô, đề mà tự chơi và trả thưởng với khách. Thời gian gần đây, thì H1 và H không chuyển bảng cho chủ lô, đề nữa, mà tự chơi và trả thưởng với khách.

Ngày 08/11/2022, Phòng Cảnh sát hình sự - Công an tỉnh HN phối hợp với Công an xã TT, huyện TL tiến hành kiểm tra, phát hiện Đào Đình H1 và Nguyễn Văn H đang tổng hợp bảng lô, đề tại nhà của mình ở xã TT, huyện TL, tỉnh HN. Tổ công tác đã lập biên bản vụ việc, đồng thời tạm giữ toàn bộ đồ vật, tài liệu liên quan tới việc mua bán số lô, đề trái phép.

* Vật chứng và tài sản thu giữ:

- Thu của Đào Đình H1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Pro; 01 tờ tổng hợp số lô, đề ngày 08/11/2022; số tiền 1.650.000 đồng và 01 USB nhãn hiệu Kingston;

- Thu của Nguyễn Văn H: 03 điện thoại di động nhãn hiệu lần lượt là Viettel, FORME, MASSTEL; 05 tờ giấy ghi các số lô, đề trong ngày 08/11/2022 và số tiền 2.700.000 đồng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đào Đình H1 và Nguyễn Văn H, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh HN không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Cơ quan điều tra đã chứng minh được trong ngày 08/11/2022, Đào Đình H1 bán các số lô, số đề qua điện thoại và ghi trực tiếp cho các khách chơi, cụ thể như sau:

+ Bán qua điện thoại cho: Nguyễn Văn H2 - sinh năm 1992, trú tại thôn TH1, xã TT, huyện TL, tỉnh HN số bao lô “13” 100 điểm, giá 01 điểm bao lô là 22.500 đồng → số tiền H1 sử dụng đánh bạc với H2 là 2.250.000 đồng; Lê Văn Thắng - sinh năm 1972, trú tại thôn Nham Kênh, xã TN, huyện TL, tỉnh HN số bao lô “04, 40, 03, 30” mỗi số 20 điểm, giá 01 điểm bao lô là 22.500 đồng → số tiền H1 sử dụng đánh bạc với Thắng là 1.800.000 đồng; Trịnh Ngọc V- sinh năm 1978, trú tại thôn Nham Tràng, xã TT, huyện TL, tỉnh HN số bao lô “04” 20 điểm, giá 01 điểm bao lô là 22.500 đồng → số tiền H1 sử dụng đánh bạc với Vỹ là 450.000 đồng. Bán trực tiếp cho Vũ Văn Việt - sinh năm 1981, trú tại thôn TH1, xã TT, huyện TL, tỉnh HN số bao lô “20, 79, 97” mỗi số 20 điểm, giá 01 điểm bao lô là 22.500 đồng → số tiền H1 sử dụng đánh bạc với Việt là 1.350.000 đồng (số tiền này H1 đã nhận từ Việt và chi tiêu hết). Ngoài ra, H1 còn bán cho nhiều khách chơi không quen biết các số bao lô, đề, 3 càng với số tiền 1.800.000 đồng. Bản thân H1 còn tự mua các số bao lô “26” 10 điểm, “65” 20 điểm. Như vậy, tổng số tiền H1 sử dụng đánh bạc trong ngày 08/11/2022 là 8.325.000 đồng.

Ngày 07/11/2022, Đào Đình H1 bán số lô, đề trái phép cho khách chơi qua điện thoại cụ thể như sau:

+ Bán cho Nguyễn Văn H: các số bao lô “29, 92” mỗi số 48 điểm, “04, 40” mỗi số 25 điểm, “77, 88, 99” mỗi số 9 điểm, “08, 80” mỗi số 7 điểm, “16, 61” mỗi số 05 điểm, “14, 41, 23, 32, 57, 75” mỗi số 04 điểm, với giá 01 điểm bao lô là 21.800 đồng; cặp lô xiên 3 “77-88-99”, “99-12-31”, “20-25-00” mỗi cặp 100.000 đồng; các số đề đầu bé (số đề đầu từ “0” đến “4”) gồm 50 số, mỗi số 30.000 đồng với tổng số tiền 1.500.000 đồng; H trúng thưởng số bao lô “29” được 3.840.000 đồng, số bao lô “40” được 4.000.000 đồng, số bao lô “08” được 560.000 đồng, số bao lô “41” được 320.000 đồng, số bao lô “57” được 320.000 đồng → tổng số tiền H1 sử dụng đánh bạc với H là 15.657.800 đồng.

+ Bán cho Nguyễn Văn H2 số bao lô “54” 100 điểm, giá 01 điểm bao lô là 22.500 đồng; H2 trúng thưởng số bao lô “54” được 8.000.000 đồng → số tiền H1 sử dụng đánh bạc với H2 là 10.250.000 đồng.

+ Bán cho Trịnh Ngọc H số bao lô “79, 36” mỗi số 10 điểm, giá 01 điểm bao lô là 22.500 đồng → số tiền H1 sử dụng đánh bạc với Vỹ là 450.000 đồng.

+ Bán cho Lê Văn Thắng: số bao lô “36, 63” mỗi số 30 điểm, giá 01 điểm bao lô là 22.500 đồng; số đề “47” giá 55.000 đồng → số tiền H1 sử dụng đánh bạc với T2 là 1.405.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền H1 sử dụng đánh bạc trong ngày 07/11/2022 là 27.762.800 đồng.

Ngoài ra, từ ngày 01/11/2022 đến ngày 06/11/2022, Đào Đình H1 còn đánh bạc dưới hình thức bán các số lô, đề trái phép cho các khách chơi với số tiền đánh bạc dưới 5.000.0000 đồng, cụ thể như sau:

+ Ngày 01/11/2022, H1 bán số lô, đề cho Trịnh Ngọc V với số tiền 867.500 đồng; Vỹ không trúng thưởng.

+ Ngày 02/11/2022, H1 bán số lô, đề cho Trịnh Ngọc V với số tiền 225.000 đồng; Vỹ không trúng thưởng.

+ Ngày 03/11/2022, H1 bán số lô, đề cho: Trịnh Ngọc V với số tiền 225.000 đồng, Nguyễn Văn H2 với số tiền 2.250.000 đồng; Vỹ và H2 không trúng thưởng → tổng số tiền H1 sử dụng đánh bạc trong ngày 03/11/2022 là 2.475.000 đồng.

+ Ngày 04/11/2022, H1 bán số lô, đề cho: Trịnh Ngọc V với số tiền 337.500 đồng, Nguyễn Văn H2 với số tiền 2.250.000 đồng; Vỹ trúng thưởng 800.000 đồng, H2 không trúng thưởng → tổng số tiền H1 sử dụng đánh bạc trong ngày 04/11/2022 là 3.387.500 đồng.

+ Ngày 05/11/2022, H1 bán số lô, đề cho: Trịnh Ngọc V với số tiền 675.000 đồng, Nguyễn Văn H2 với số tiền 1.125.000 đồng, Lê Văn T2 với số tiền 680.000 đồng; T2 trúng thưởng 1.600.000 đồng, Vỹ và H2 không trúng thưởng → tổng số tiền H1 sử dụng đánh bạc trong ngày 05/11/2022 là 4.080.000 đồng.

+ Ngày 06/11/2022, H1 bán số lô, đề cho: Trịnh Ngọc V với số tiền 285.000 đồng, Nguyễn Văn H2 với số tiền 1.125.000 đồng, Lê Văn T2 với số tiền 900.000 đồng; Vỹ trúng thưởng 400.000 đồng, H2 và T2 không trúng thưởng → tổng số tiền H1 sử dụng đánh bạc trong ngày 06/11/2022 là 2.710.000 đồng.

Đối với Nguyễn Văn H, quá trình điều tra xác định trong ngày 08/11/2022, H bán số lô, số đề cho khách qua điện thoại, cụ thể như sau:

+ Bán cho Đào Xuân T - sinh năm 1996, trú tại thôn TH, xã TT, huyện TL, tỉnh HN: các số bao lô “06, 60, 15, 51, 16, 61, 19, 91, 56, 07, 26, 62, 03, 02, 08, 05, 09, 96, 77, 86, 24, 42, 29, 92” mỗi số 5 điểm, các số bao lô “07, 26, 62” mỗi số 10 điểm, giá 01 điểm bao lô là 22.000 đồng → số tiền H sử dụng đánh bạc với T là 3.300.000 đồng.

+ Bán cho Trần Đức H - sinh năm 1972, trú tại thôn LP, xã TT, huyện TL, tỉnh HN: các số đề đầu 5 gồm “50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59” mỗi số giá 50.000 đồng → số tiền Nguyễn Văn H sử dụng đánh bạc với Trần Đức H là 500.000 đồng.

+ Bán cho Hà Văn T - sinh năm 1982, trú tại thôn TH, xã TT, huyện TL, tỉnh HN: các số bao lô “58, 85” mỗi số 20 điểm, các số bao lô “25, 52, 05, 50, 02, 20, 04, 06, 14, 79” mỗi số 05 điểm, giá 01 điểm bao lô là 22.000 đồng; các số đề “26, 27, 28, 96, 97, 98” mỗi số 20.000 đồng → số tiền H sử dụng đánh bạc với Thương là 2.100.000 đồng.

+ Bán cho Đinh Văn T - sinh năm 1982, trú thôn Nam Công, xã TT, huyện TL, tỉnh HN: các số bao lô “29” 30 điểm, “92, 88, 99” mỗi số 20 điểm, “04, 40, 48, 84, 26” mỗi số 10 điểm, giá 01 điểm bao lô là 22.000 đồng; các cặp lô xiên “44-88-99”, “44-88-29-99” mỗi cặp 100.000 đồng → số tiền H sử dụng đánh bạc với T3 là 3.280.000 đồng.

+ Bán cho Đào Văn C - sinh năm 1973, trú tại thôn BB, xã TT, huyện TL, tỉnh HN: các số đề đầu “6” (gồm 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69) mỗi số 20.000 đồng và các số đề đuôi “6” (gồm 06, 16, 26, 36, 46, 56, 66, 76, 86, 96) mỗi số 20.000 đồng → số tiền H sử dụng đánh bạc với Chiến là 400.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Văn H sử dụng vào mục đích đánh bạc ngày 08/11/2022 là 9.580.000 đồng.

Ngoài ra, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập xác định: ngày 06/11/2022, Nguyễn Văn H đã bán cho Đào Xuân T các số bao lô “28, 82, 29, 92, 67, 76, 39, 93, 00, 72, 02, 26, 62, 97, 04, 40, 31, 58, 85, 35, 37, 77, 17, 46, 64, 56, 65, 06, 60” mỗi số 05 điểm, giá 01 điểm bao lô là 22.000 đồng; T trúng thưởng 2.800.000 đồng → tổng số tiền H sử dụng đánh bạc với T là 5.990.000 đồng. Ngày 07/11/2022, Nguyễn Văn H bán số lô, đề cho Đào Xuân T với số tiền là 2.200.000 đồng; T trúng thưởng 2.000.000 đồng → tổng số tiền H sử dụng đánh bạc với T là 4.200.000 đồng.

Quá trình điều tra, xác minh, Cơ quan điều tra đã thu giữ thêm các vật chứng có liên đến quan vụ án, cụ thể: 02 quyển sổ ghi chép liên quan đến số lô, đề và kết quả sổ xố, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02S của Đào Xuân T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M12 của Trần Đức H; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max của Nguyễn Văn H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của Lê Văn T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 của Trịnh Ngọc Vỹ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 của Đinh Văn T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu COOPLPAD của Hà Văn T. Đối với chiếc điện thoại Đào Văn Chiến sử dụng gọi điện cho Nguyễn Văn H để mua các số lô, số đề trái phép vào ngày 08/11/2022: quá trình điều tra Chiến khai đã bị rơi mất điện thoại, ngoài lời khai của Chiến thì không còn tài liệu chứng cứ nào khác; nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để thu hồi.

Tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKSTL ngày 20/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện TL đã truy tố Nguyễn Văn H, Đào Đình H1, Nguyễn Văn H2, Đào Xuân T và Trần Đức H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Đào Đình H1, Nguyễn Văn H2, Đào Xuân T và Trần Đức H phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58 (đối với tất cả các bị cáo), điểm i khoản 1 Điều 51 (đối với Nguyễn Văn H2, Đào Xuân T); điểm g khoản 1 Điều 52 (đối với Đào Đình H1, Nguyễn Văn H), Điều 38 (đối với Nguyễn Văn H, Đào Đình H1, Trần Đức H), Điều 65 (đối với Nguyễn Văn H2, Đào Xuân T) của Bộ luật Hình sự - xử phạt Nguyễn Văn H từ 09 đến 12 tháng tù, được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam; xử phạt Đào Đình H1 từ 08 đến 11 tháng tù, được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam; xử phạt Trần Đức H từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam; xử phạt Nguyễn Văn H2 và Đào Xuân T mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Về xử lý vật chứng: tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.650.000 đồng thu giữ của Đào Đình H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Pro của Đào Đình H1; 03 điện thoại di động nhãn hiệu lần lượt là Viettel, FORME, MASSTEL của Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02S của Đào Xuân T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M12 của Trần Đức H; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max của Nguyễn Văn H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của Lê Văn T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 của Trịnh Ngọc Vỹ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 của Đinh Văn T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu COOPLPAD của Hà Văn T. Trả lại cho Nguyễn Văn H số tiền 2.700.000 đồng. Truy thu, nộp ngân sách Nhà nước của: Đào Đình H1 23.842.800 đồng, Nguyễn Văn H 14.430.000 đồng, Nguyễn Văn H2 10.250.000 đồng, Đào Xuân T 8.100.000 đồng, Trần Đức H 500.000 đồng, Lê Văn T2 3.400.000 đồng, Trịnh Ngọc V1.650.000 đồng, Hà Văn T 2.100.000 đồng, Đinh Văn T3 3.280.000 đồng, Đào Văn Chiến 400.000 đồng.

- Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tỏ rõ sự ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu nhận lại điện thoại di động đã bị thu giữ và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với biên bản vụ việc, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Đào Đình H1, Nguyễn Văn H đều không có hợp đồng làm đại lý bán xổ số với Công ty TNHH MTV xổ số kiến thiết HN. Do hám lợi, nên Đào Đình H1, Nguyễn Văn H đã bán số lô, đề trái phép cho khách thông qua hình thức bán trực tiếp tại nhà và bán qua điện thoại di động. Cơ quan điều tra đã chứng minh được Đào Đình H1 đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, đề trái phép trong ngày 07/11/2022 với tổng số tiền là 27.762.800 đồng và trong ngày 08/11/2022 với tổng số tiền là 8.325.000 đồng; Nguyễn Văn H thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, đề trái phép trong ngày 06/11/2022 với tổng số tiền là 5.990.000 đồng, ngày 07/11/2022 với tổng số tiền là 15.657.800 đồng và ngày 08/11/2022 với tổng số tiền là 9.580.000 đồng. Ngoài ra, Cơ quan điều tra đã chứng minh được trong ngày 06/11/2022, Đào Xuân T đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề trái phép với Nguyễn Văn H với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 5.990.000 đồng; ngày 07/11/2022, Nguyễn Văn H2 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề của Đào Đình H1 với tổng số tiền là 10.250.000 đồng và ngày 08/01/2022, Trần Đức H là người có tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích tiếp tục đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số lô, số đề của Nguyễn Văn H với số tiền là 500.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng. Bản thân các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Số tiền các bị cáo Nguyễn Văn H, Đào Đình H1, Nguyễn Văn H2, Đào Xuân T sử dụng vào việc đánh bạc là từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; mặc dù số tiền Trần Đức H sử dụng đánh bạc là dưới 5.000.000 đồng, nhưng H đã bị kết án về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Hội đồng xét xử kết luận: hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TL truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đây là vụ án có nhiều đối tượng tham gia nhưng có tính chất tự phát, không có sự câu kết chặt chẽ, nên xác định là đồng phạm giản đơn. Đào Đình H1, Nguyễn Văn H là người trực tiếp ghi số lô, đề trái phép cho các khách chơi, đồng thời thực hiện nhiều lần hành vi phạm tội, nên giữ vai trò thứ nhất; Nguyễn Văn H2, Đào Xuân T, Trần Đức H cùng tham gia đánh bạc dưới vai trò là người mua số lô, số đề trái phép của H1 và H, nên là đồng phạm và giữ vai trò thứ hai.

Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: các bị cáo Đào Đình H1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H2 và Đào Xuân T đều có nhân thân tốt; bị cáo Trần Đức H có nhân thân xấu.

- Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo Đào Đình H1, Nguyễn Văn H pH2 chịu 01 tình tiết tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Văn H2, Đào Xuân T, Trần Đức H không pH2 chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn H2, Đào Xuân T “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận; bị cáo Đào Đình H1 có thời gian phục vụ trong quân đội, có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến; bị cáo Nguyễn Văn H có bố đẻ và bà nội là người có công với cách mạng được Nhà nước ghi nhận, tặng thưởng Huy chương kháng chiến; nên Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy:

Đào Đình H1 và Nguyễn Văn H phạm tội nhiều lần, cùng giữ vai trò thứ nhất; Trần Đức H đã bị kết án về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội; nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo này khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo.

Đào Xuân T và Nguyễn Văn H2 đều có nhân thân tốt và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Vì vậy, xét thấy không cần pH2 bắt các bị cáo này chấp hành hình phạt tù, mà cho các bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú, cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung. Việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Hình phạt bổ sung: xét thấy, các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 1.650.000 đồng thu của Đào Đình H1 là số tiền H1 bán số lô, đề trái phép mà có; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Pro của Đào Đình H1, 03 điện thoại di động nhãn hiệu lần lượt là Viettel, FORME, MASSTEL của Nguyễn Văn H, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02S của Đào Xuân T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M12 của Trần Đức H; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max của Nguyễn Văn H2: đây là tiền và tài sản hợp pháp của các bị cáo sử dụng vào việc mua bán số lô, đề trái phép; nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 2.700.000 đồng thu của Nguyễn Văn H: quá trình điều tra xác định đây là số tiền cá nhân của H, không liên quan đến hành vi phạm tội; nên cần trả lại cho H.

- Đối với 01 bảng tổng hợp số lô, đề của Đào Đình H1; 05 tờ giấy ghi số lô, đề của Nguyễn Văn H; 02 quyển sổ ghi chép số lô, đề và kết quả xổ số của Đào Xuân T, 01 USB nhãn hiệu Kingston màu đỏ chứa nội dung ghi âm cuộc gọi mua bán số lô, đề của Nguyễn Văn H và Đào Đình H1: đây đều là các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo; nên cần lưu trong hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của Lê Văn T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 của Trịnh Ngọc Vỹ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 của Đinh Văn T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu COOPLPAD của Hà Văn T: quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp các đối tượng trên. Các đối tượng đã sử dụng vào việc giao dịch mua bán số lô, đề trái phép và nay không yêu cầu nhận lại; nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án sử dụng vào việc đánh bạc trong các ngày mà Cơ quan điều tra đã chứng minh được, cần truy thu, nộp ngân sách Nhà nước, gồm:

+ Ngày 08/11/2022, Đào Đình H1 đã bán số lô, đề cho Nguyễn Văn H2 2.250.000 đồng, Lê Văn T2 1.800.000 đồng, Trịnh Ngọc V 450.000 đồng, Vũ Văn Việt 1.350.000 đồng, các đối tượng không quen biết 1.800.000 đồng, H1 tự mua 675.000 đồng. Do bị bắt trước khi có kết quả xổ số và các đối tượng mua của H1 chưa trả tiền; nên cần truy thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền các đối tượng bỏ ra đánh bạc với H1. Cụ thể, truy thu của: Nguyễn Văn H2 2.250.000 đồng, Lê Văn T2 1.800.000 đồng, Trịnh Ngọc V 450.000 đồng, Đào Đình H1 675.000 đồng. Vũ Văn Việt đã thanh toán với Đào Đình H1 1.350.000 đồng trong ngày 08/11/2022 và H1 đã chi tiêu cá nhân hết số tiền này, nên cần truy thu của H1 1.350.000 đồng. Đối với số tiền đánh bạc của các đối tượng không quen biết tổng là 1.800.000 đồng, Cơ quan điều tra đã thu giữ được 1.650.000 đồng, nay cần truy thu của Đào Đình H1 150.000 đồng.

+ Ngày 07/11/2022, Đào Đình H1 bán số lô, đề cho Nguyễn Văn H với số tiền 6.617.800 đồng, tiền trúng thưởng H1 đã trả cho H 9.040.000 đồng. Vì vậy, cần truy thu của Nguyễn Văn H 9.040.000 đồng, Đào Đình H1 6.617.800 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

+ Ngày 07/11/2022, Đào Đình H1 bán số lô, đề cho Nguyễn Văn H2 với số tiền 2.250.000 đồng, tiền trúng thưởng H1 đã trả cho H2 8.000.000 đồng. Vì vậy, cần truy thu của Nguyễn Văn H2 8.000.000 đồng, Đào Đình H1 2.250.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

+ Ngày 07/11/2022, Đào Đình H1 bán số lô, đề cho Trịnh Ngọc V với số tiền 450.000 đồng, Lê Văn T2 1.405.000 đồng. Vì vậy, cần truy thu của Đào Đình H1 1.855.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

+ Ngày 06/11/2022, H1 bán số lô, đề cho: Trịnh Ngọc V với số tiền 285.000 đồng, Nguyễn Văn H2 với số tiền 1.125.000 đồng, Lê Văn T2 với số tiền 900.000 đồng; tiền trúng thưởng H1 đã trả cho Vỹ 400.000 đồng. Vì vậy, cần truy thu của Trịnh Ngọc V 400.000 đồng, Đào Đình H1 2.310.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

+ Ngày 05/11/2022, H1 bán số lô, đề cho: Trịnh Ngọc V với số tiền 675.000 đồng, Nguyễn Văn H2 với số tiền 1.125.000 đồng, Lê Văn T2 với số tiền 680.000 đồng; tiền trúng thưởng H1 đã trả cho T2 1.600.000 đồng. Vì vậy, cần truy thu của Lê Văn T2 1.600.000 đồng, Đào Đình H1 2.480.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

+ Ngày 04/11/2022, H1 bán số lô, đề cho: Trịnh Ngọc V với số tiền 337.500 đồng, Nguyễn Văn H2 với số tiền 2.250.000 đồng; tiền trúng thưởng H1 đã trả cho Vỹ 800.000 đồng. Vì vậy, cần truy thu của Trịnh Ngọc V 800.000 đồng, Đào Đình H1 2.587.500 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

+ Ngày 03/11/2022, H1 bán số lô, đề cho: Trịnh Ngọc V với số tiền 225.000 đồng, Nguyễn Văn H2 với số tiền 2.250.000 đồng. Vì vậy, cần truy thu của Đào Đình H1 2.475.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

+ Ngày 02/11/2022, H1 bán số lô, đề cho Trịnh Ngọc V với số tiền 225.000 đồng. Vì vậy, cần truy thu của Đào Đình H1 225.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

+ Ngày 01/11/2022, H1 bán số lô, đề cho Trịnh Ngọc V với số tiền 867.500 đồng. Vì vậy, cần truy thu của Đào Đình H1 867.500 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

+ Ngày 08/11/2022, Nguyễn Văn H đã bán số lô, đề cho Đào Xuân T với số tiền 3.300.000 đồng, Trần Đức H 500.000 đồng, Hà Văn T 2.100.000 đồng, Đinh Văn T3 3.280.000 đồng, Đào Văn Chiến 400.000 đồng. Do bị bắt trước khi có kết quả xổ số và các đối Tợng mua của H chưa trả tiền; nên cần truy thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền các đối Tợng bỏ ra đánh bạc với H. Cụ thể, truy thu của: Đào Xuân T 3.300.000 đồng, Trần Đức H 500.000 đồng, Hà Văn T 2.100.000 đồng, Đinh Văn T3 3.280.000 đồng, Đào Văn Chiến 400.000 đồng.

+ Ngày 07/11/2022, Nguyễn Văn H bán số lô, đề cho Đào Xuân T với số tiền 2.200.000 đồng, tiền trúng thưởng H đã trả cho T 2.000.000 đồng. Vì vậy, cần truy thu của Nguyễn Văn H 2.200.000 đồng, Đào Xuân T 2.000.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

+ Ngày 06/11/2022, Nguyễn Văn H đã bán số lô, đề cho Đào Xuân T với số tiền 3.190.000 đồng; tiền trúng thưởng H đã trả cho T 2.800.000 đồng. Vì vậy, cần truy thu của Nguyễn Văn H 3.190.000 đồng, Đào Xuân T 2.800.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

Về các vấn đề khác:

- Đối với Đào Đình H1: quá trình điều tra xác định H1 còn đánh bạc dưới hình thức bán số lô, đề trái phép cho khách chơi từ ngày 01/11/2022 đến 06/11/2022 với số tiền sử dụng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, bản thân H1 chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án về tội “Đánh bạc” hoặc “Tổ chức đánh bạc”, “Gá bạc”; nên hành vi nêu trên của H1 không cấu thành tội phạm. Do đó, Công an huyện TL đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 5.000.000 đồng đối với Đào Đình H1 về hành vi “Đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề giao lại cho người khác để hưởng hoa hồng” là có căn cứ.

- Đối với Đào Xuân T và Nguyễn Văn H2: quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn H2 đã đánh bạc dưới hình thức mua các số lô, đề trái phép của Đào Đình H1 từ ngày 03/11/2022 đến ngày 06/11/2022 với số tiền sử dụng để đánh bạc lần lượt là 2.250.000 đồng, 2.250.000 đồng, 1.125.000 đồng, 1.125.000 đồng; Đào Xuân T đã đánh bạc dưới hình thức mua các số lô, đề trái phép của Nguyễn Văn H vào ngày 07/11/2022 và ngày 08/11/2022 lần lượt là 4.200.000 đồng, 3.300.000 đồng. Tuy nhiên, bản thân T và H2 chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án về tội “Đánh bạc” hoặc “Tổ chức đánh bạc”, “Gá bạc”, số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng; nên Cơ quan CSĐT Công an huyện TL không xử lý hình sự đối với T và H2 về hành vi nêu trên. Công an huyện TL đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 500.000 đồng đối với Đào Xuân T và Nguyễn Văn H2 về hành vi “Mua các số lô, số đề” là có căn cứ.

- Đối với Đinh Văn T3, Đào Văn Chiến, Hà Văn T và Vũ Văn Việt: quá trình điều tra xác định vào ngày 08/11/2022, T3, Chiến, Thương đã đánh bạc với Nguyễn Văn H dưới hình thức mua số lô, đề với số tiền đánh bạc lần lượt là 3.280.000 đồng, 400.000 đồng, 2.100.000 đồng; Việt đã đánh bạc với Đào Đình H1 dưới hình thức mua số lô, đề với số tiền đánh bạc là 1.350.000 đồng. Bản thân T3, Chiến, Thương, Việt chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án về tội “Đánh bạc” hoặc “Tổ chức đánh bạc”, “Gá bạc”, số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng; nên Cơ quan CSĐT Công an huyện TL không xử lý hình sự đối với T3, Chiến, Thương và Việt. Công an huyện TL đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 350.000 đồng đối với Đinh Văn T3, Đào Văn Chiến, Hà Văn T và Vũ Văn V về hành vi “Mua các số lô, số đề” là có căn cứ.

- Đối với Trịnh Ngọc Vvà Lê Văn T2: quá trình điều tra xác định Lê Văn T2 đã đánh bạc dưới hình thức mua các số lô, đề trái phép của Đào Đình H1 từ ngày 05/11/2022 đến ngày 08/11/2022, số tiền sử dụng để đánh bạc lần lượt là 2.505.000 đồng, 900.000 đồng, 1.405.000 đồng, 1.800.000 đồng. Trịnh Ngọc Vđã bạc dưới hình thức mua các số lô trái phép của Đào Đình H1 từ ngày 01/11/2022 đến ngày 08/11/2022, số tiền sử dụng để đánh bạc lần lượt là 867.500 đồng, 225.000 đồng, 225.000 đồng, 337.500 đồng, 675.000 đồng, 285.000 đồng, 450.000 đồng, 450.000 đồng. Bản thân Vỹ chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án về tội “Đánh bạc” hoặc “Tổ chức đánh bạc”, “Gá bạc”, số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng; còn T2 ngày 19/11/2015 bị Tòa án nhân dân huyện TL xử phạt 07 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” đã được xóa án tích; do vậy hành vi của Vỹ, T2 không cấu thành tội phạm. Công an huyện TL đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 500.000 đồng đối với Trịnh Ngọc Vvà Lê Văn T2 về hành vi “Mua các số lô, số đề” là có căn cứ.

- Quá trình điều tra, Nguyễn Văn H khai bắt đầu bán số lô, đề trái phép từ đầu năm 2020, Đào Đình H1 khai bắt đầu bán số lô, đề trái phép từ đầu năm 2022, đến ngày 08/11/2022 thì bị phát hiện; tổng số tiền bán số lô, đề và tiền phần trăm hoa hồng được hưởng mỗi ngày là bao nhiêu thì H và H1 không nhớ. Các tài liệu, giấy tờ liên quan đến việc bán số lô, đề trước ngày 08/11/2022, H và H1 đã tiêu hủy. Ngoài lời khai của H và H1 ra, thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự và thu hồi số tiền thu lời bất chính những ngày trước đó đối với H1 và H. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã gửi yêu cầu đến Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội, Công ty Cổ phần viễn thông Đông Dương TELECOM, Tổng công ty hạ tầng mạng VNPT - Net, Công ty Cổ phần viễn thông di động VIETNAMOBILE đề nghị cung cấp thông tin chủ thuê bao, ngày tháng năm đăng ký thuê bao; danh sách cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, nội dung tin nhắn đi, tin nhắn đến; số IMEI máy điện thoại sử dụng thực hiện cuộc gọi đi, gọi đến, tin nhắn đi, tin nhắn đến trong thời gian từ ngày 01/10/2022 đến ngày 08/11/2022 của các số thuê bao “0972.727.669, 0969.395.615, 0343.466.221, 0987 355 967, 0379.855 899, 0336.590.439, 0384.214.581, 0987.561.329, 0168.729.772, 0332.655.186, 0879.655.866, 0819 856.662, 0915 923.412, 0562.162 302”; tuy nhiên, đến nay không nhận được kết quả trả lời. Cơ quan điều tra làm công văn đôn đốc nhiều lần, nhưng không có kết quả.

- Đối với nội dung Nguyễn Văn H và Đào Đình H1 khai Phạm Thế V - sinh năm 1995, trú tại thôn TH, xã TT, huyện TL, tỉnh HN và Trần Thị L - sinh năm 1969, trú tại Thôn 1 T, xã TH, huyện TL, tỉnh HN là người thu gom bảng lô, đề của H và H1: quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã triệu tập làm việc, nhưng Việt và Lâm không thừa nhận việc thu gom bảng lô đề của H và H1. Ngoài lời khai của H và H1 ra, thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý trách nhiệm đối với Việt và Lâm.

- Đối với những khách đã mua số lô, đề của Đào Đình H1: quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tập trung điều tra, xác minh thì ngoài Nguyễn Văn H2, Lê Văn T2, Trịnh Ngọc Vỹ, Vũ Văn Việt, Nguyễn Văn H, H1 không nhớ, không xác định được nhân thân, lai lịch của những người này; nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để triệu tập, xác minh làm rõ.

Về án phí: các bị cáo pH2 nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự: căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58 (đối với tất cả các bị cáo), điểm i khoản 1 Điều 51 (đối với Nguyễn Văn H2, Đào Xuân T); điểm g khoản 1 Điều 52 (đối với Đào Đình H1, Nguyễn Văn H), Điều 38 (đối với Nguyễn Văn H, Đào Đình H1, Trần Đức H), Điều 65 (đối với Nguyễn Văn H2, Đào Xuân T) và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn H, Đào Đình H1, Trần Đức H, Nguyễn Văn H2 và Đào Xuân T phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù, được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 09/11/2022 đến ngày 31/12/2022); thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Đào Đình H1 08 (tám) tháng tù, được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 09/11/2022 đến ngày 31/12/2022); thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Trần Đức H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (09/11/2022).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 07 (tháng) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/3/2023);

- Xử phạt Đào Xuân T 07 (tháng) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/3/2023);

Giao bị cáo Nguyễn Văn H2 và Đào Xuân T cho Ủy ban nhân dân xã TT, huyện TL, tỉnh HN giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo pH2 chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

2. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 1.650.000 đồng thu giữ của Đào Đình H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Pro của Đào Đình H1; 03 điện thoại di động nhãn hiệu lần lượt là Viettel, FORME, MASSTEL của Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02S của Đào Xuân T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M12 của Trần Đức H; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max của Nguyễn Văn H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của Lê Văn T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 của Trịnh Ngọc Vỹ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 của Đinh Văn T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu COOPLPAD của Hà Văn T. Trả lại cho Nguyễn Văn H số tiền 2.700.000 đồng. (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/02/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TL với Chi cục Thi hành án dân sự huyện TL; số tiền theo Ủy nhiệm chi số 10 lập ngày 24/02/2023 tại Kho bạc Nhà nước huyện TL)

- Tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án: 01 bảng tổng hợp số lô, số đề của Đào Đình H1; 05 tờ giấy ghi số lô, đề của Nguyễn Văn H; 02 quyển sổ ghi chép số lô, đề và kết quả xổ số của Đào Xuân T; 01 USB nhãn hiệu Kingston.

- Truy thu của Đào Đình H1 23.842.800 đồng, Nguyễn Văn H 14.430.000 đồng, Nguyễn Văn H2 10.250.000 đồng, Đào Xuân T 8.100.000 đồng, Trần Đức H 500.000 đồng, Lê Văn T2 3.400.000 đồng, Trịnh Ngọc V1.650.000 đồng, Hà Văn T 2.100.000 đồng, Đinh Văn T3 3.280.000 đồng và Đào Văn Chiến 400.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

3. Án phí: các bị cáo Nguyễn Văn H, Đào Đình H1, Trần Đức H, Nguyễn Văn H2 và Đào Xuân T mỗi bị cáo pH2 nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH2 thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ