- Tranh chấp gì? án hình sự — "HOÀNG VĂN THỊNH - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Hoàng Văn Th 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2022.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SĐ TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/HS-ST Ngày: 10 - 5- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SĐ – TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Nguyễn Xuân Thạo.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Chung, bà Vi Thị Tú.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Chung, Thư ký Toà án nhân dân huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiếm sát nhân dân huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chuyên, Kiểm sát viên.
Ngày 10/5/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/HSST ngày 11/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST – HS ngày 26/4/2023 đối với bị cáo:
Hoàng Văn Th, năm 1991, tại huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang;
Nơi cư trú: Thôn ĐBT, xã TĐ, huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang, Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn Q, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1957; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày từ 28/12/2022, bị tạm giam từ ngày 31/12/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ của Công an huyện SĐ, tỉnh tỉnh Bắc Giang (bị cáo có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 15 giờ 50 phút ngày 28/12/2022, tại khu vực thôn T, xã CĐ, huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện SĐ phát hiện Hoàng Văn Th có biểu hiện Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra, Hoàng Văn Th lấy ra từ túi áo bên trái của Th 01 (một) túi nilon mầu trắng được hàn kín và 01 (một) đoạn ống nhựa mầu xanh lá cây được hàn kín hai đầu, bên trong đều chứa chất cục bột mầu trắng, vứt xuống nền đất cách vị trí Th đang đứng 02 mét, Cơ quan điều tra đã chụp ảnh, thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Văn Th sau đó đưa Th về Công an huyện SĐ để điều tra làm rõ.
Ngày 28/12/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện SĐ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn Th nhưng không phát hiện đồ vật tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Ngày 29/12/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện SĐ đã ra Quyết định trưng cầu giám định chất nghi là ma túy thu giữ khi bắt quả tang Th.
Tại Kết luận giám định số 2464 /KL-KTHS, ngày 30/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang,kết luận:
Trong 01(một) phong bì ký hiệu “01” đã được niêm phong gửi giám định.
Chất cục bột mầu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon mầu trắng, được hàn kín là ma túy, có khối lượng 0,271 gam, loại Heroine.
Chất cục bột mầu trắng đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa mầu xanh, được hàn kín hai đầu là ma túy, có khối lượng 0,097 gam, loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số 19/CT – VKS ngày 14/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang truy tố Hoàng Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện SĐ trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt Hoàng Văn Th từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2022.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện SĐ còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện SĐ luận tội, bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành các hành vi tố tụng hợp pháp. Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
Về nội dung: Tại phiên tòa, qua xét hỏi, bị cáo Hoàng Văn Th đã khai nhận nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý như nội dung bản cáo trạng số 19/CT – VKS ngày 14/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện SĐ đã truy tố, bị cáo không kêu oan.
Bị cáo khai tại phiên tòa như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 28/12/2022, khi Th đang ở nhà Nguyễn Văn Tr, và Nguyễn Văn K ở thôn Đ, xã TĐ, huyện SĐ đến chơi, đến khoảng 12 giờ cùng ngày K rủ Th đi mua ma túy, sau đó K trở Th bằng xe mô tô đến xã BĐ, huyện LN mục đích để mua ma tuý, khi đến khu vực gần cây xăng xã BĐ, K dừng xe và đưa cho Th 700.000đồng rồi đứng chờ. Th đã dùng số tiền K đưa mua ma tuý của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ rồi quay trờ lại chỗ K, K tiếp tục trở Th quay trở về SĐ. Khi đi đến khu vực thôn Th, xã CĐ thì Th bị Công an huyện SĐ bắt quả tang.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang do cơ quan điều tra lập hồi 16 giờ ngày 28/12/2022, (bút lục số 46 đến 48), phù hợp với kết luận giám định số 2460/KL – KTHS ngày 30/12/2022 (bút lục số 40), lời khai của bị cáo (bút lục số 101 đến bút lục số 112) và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ 0,368 gam Heroine. Như vậy có đủ cơ sở để Hội động xét xử kết luận: Bị cáo Hoàng Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng số 19/CT – VKS ngày 14/4/2023của Viện kiểm sát nhân dân huyện SĐ truy tố bị cáo về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương, người sử dụng ma tuý ảnh hưởng đến sức khoẻ, là một trong những nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác như trộm cắp tài sản, cướp tài sản...và cũng là một trong những nguyên nhân lây lan một số bệnh nguy hiểm. Vì vậy cần xét xử nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân của bị cáo; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, trước lần phạm tội này, bị cáo không bị cơ quan nhà nước nào xử lý về hành vi vi phạm pháp luật.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly xã hội đối với bị cáo một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.
Do bị cáo là người thuộc diện hộ nghèo, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Th. Quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Tại phiên tòa Bị cáo Th khai Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1986 và Nguyễn Văn K ở thôn được Nguyễn Văn K, sinh năm: 1989 ở thôn ĐX, xã TĐ, huyện SĐ rủ đi mua ma túy và K là người đưa cho Th số tiền 700.000đồng và dùng xe mô tô đưa Th đến xã BĐ, huyện LN với mục đích mua ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Th với Trường và K nhưng Trường và K không thừa nhận lời khai của Th (bút lục số 76, 91) ngoài lời khai của Th không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh Trường và K rủ Th đi mua ma túy, không có tài liệu, chứng cứ chứng minh K là người đưa tiền và đưa Th đi mua ma túy nên không có căn cứ để xử lý đối với Trường và K.
Vật chứng của vụ án: 01 túi nilon hàn kín, 01 ống nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa chất cục bột màu trắng là ma túy Heroine còn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu số “01” đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo là người thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331,Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Xử phạt: Hoàng Văn Th 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2022.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín, ký hiệu “01” bên trong có 01 túi ni lon hàn kín, 01 ống nhựa hai đầu bên trong chứa chất cục bột màu trắng là ma túy Heroine còn lại sau giám định được niêm phong bằng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang.
3. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn Th.
4. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện SĐ; - Công an huyện SĐ; - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Chi cục THADS huyện SĐ; - Bị cáo; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Thạo |