- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Văn Ph ( Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý,…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20 /2023/HS-ST Ngày 29/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lý Thị Luân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Triệu Văn Ngân
2. Bà Trần Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Nông Đinh Hiệp - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 6 năm 2023; tại: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2023/HSST, ngày 16 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Lâm Văn P, sinh ngày 27/6/1994; tại: Xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn L và bà Lương Thị S; bị cáo có vợ là Triệu Thị L và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đỗ Thị Xuân, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Triệu Thị L, sinh năm 1990; Trú tại: thôn H, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).
+ Anh Triệu Đức T, sinh năm 1989; Trú tại: thôn D, xã V1, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 23/12/2022, tại Km 259+400 QL 279 thuộc địa phận thôn B, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Khu ngã ba đi thôn H, xã V), Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Tham nhũng, kinh tế, buôn lậu Công an tỉnh Bắc Kạn phối hợp với các đơn vị có liên quan kiểm tra phát hiện bắt quả tang Lâm Văn P – Sinh năm 1994, trú tại thôn H, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn đang sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng đen bạc, Biển kiểm soát 97B2 -027.31 chuẩn bị vận chuyển trái phép 09 (chín) cá thể động vật còn sống nghi là Rùa (trong đó có 01 cá thể nghi là Rùa đầu to thuộc loài động vật có tên trong nhóm IB, Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm) nên đã tạm giữ P và một số tài sản, tang vật để làm rõ.
Ngày 26/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 113/QĐ-CSĐT để Trưng cầu giám định Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam để tiến hành giám định: Xác định tên loài, tên khoa học; Nhóm; Tình trạng bảo tồn của động vật đối với 09 cá thể Rùa nêu trên.
Ngày 26/12/2022, Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam có Kết luận giám định số 2002/STTNSV kết luận đối với 09 cá thể động vật như sau:
+ Xác định tên loài động vật:
- 01 (một) cá thể động vật còn sống được đánh số thứ tự 09 là loài Rùa đầu to có tên khoa học là Platysternon megacephalum, lớp bò sát (Reptilia).
- 08 (tám) cá thể động vật còn sống được đánh số thứ tự từ 01 đến 08 là loài Rùa Sa Nhân có tên khoa học là Cuora mouhotii, lớp bò sát (Reptilia).
+ Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định của pháp luật:
- Loài Rùa đầu to có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ.
- Loài Rùa đầu to cũng có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
- Loài Rùa Sa Nhân có tên trong Nhóm IIB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ
Tại Cơ quan điều tra Lâm Văn P khai nhận: Thông qua mạng xã hội (Facebook) P biết một người tên V có nick (Facebook) là HV nhưng không biết tên thật, địa chỉ của người này ở đâu, qua trao đổi thì V nói với P là V biết một người đàn ông ở huyện Ng, tỉnh Bắc Kạn (không rõ tên, địa chỉ cụ thể) có mấy con Rùa xem có cửa đi thì gọi lấy hàng (ý nói có chỗ bán không thì mua về bán lại) và P đồng ý. Sau khi V cho số điện thoại 0936904226 của người ở huyện Ng thì P trực tiếp gọi điện hỏi, trao đổi và biết đúng là người này có 09 (chín) con Rùa để bán, P và người này thống nhất giá mua, bán là 800.000đ/kg, thống nhất cách vận chuyển số Rùa nói trên cho đến khi P nhận được Rùa thì mới trả tiền. Sau đó P liên hệ với nhà xe khách “Đại Thu” chạy tuyến Bắc Ninh- N nói khi nào đến ngã ba xã LN (nay là xã HL, huyện Ng) thì chở cho P một thùng hàng (P không nói bên trong là hàng gì) và nhà xe đồng ý. Khoảng hơn 14 giờ ngày 23/12/2022 khi xe khách về đến Cây xăng 47 thuộc xã V, huyện N, P đón lấy thùng hàng có chứa 09 cá thể Rùa và cho lên xe mô tô Biển kiểm soát 97B2 - 027.31 để vận chuyển về nhà thì bị Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật và tạm giữ một số tài sản khác. Cũng trong ngày 23/12/2022, trước khi mua được 09 (chín) cá thể Rùa thì P đã liên hệ với một người mua lại số Rùa nói trên tên là Tr, có nich (Facebook) là PTr, P cũng chỉ được Tr giới thiệu nhà ở thành phố Bắc Kạn (nhưng không rõ địa chỉ cụ thể), số điện thoại của Tr là 0914481886. P và Tr thống nhất việc mua, bán Rùa với nhau. Tr đã chuyển khoản cho P trước số tiền là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) để mua Rùa với P.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
+ 01 (một) phong bì có 04 chữ ký tại mép dán phong bì một mặt phong bì ghi dòng chữ “điện thoại di động P”, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệp OPPO loại màn hình cảm ứng.
+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu trắng, Biển Kiểm soát 97B2- 027.31, trên xe có gắn giá chở hàng bằng kim loại, xe cũ đã qua sử dụng.
+ 01 (một) Thùng xốp có kích thước: 60cm x 45cm x 40cm, Thùng xốp đã qua sử dụng.
+ Số tiền 4.260.000đ ( bốn triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng ).
* Vật chứng đã xử lý:
Đối với 01 (một) cá thể Rùa đầu to còn sống là vật chứng của vụ án, tuy nhiên là vật khó bảo quản, trông coi nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức: Bàn giao cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hà Nội để quản lý theo quy định của pháp luật.
Đối với 08 (tám) cá thể Rùa Sa Nhân còn sống không phải vật chứng của vụ án nên Công an huyện N đã xử lý hành chính đối với Lâm Văn P và tiến hành bàn giao cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hà Nội theo quy định của pháp luật
Tại bản cáo trạng số: 17/CT – VKSNR, ngày 15/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn truy tố Lâm Văn P về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm” theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự.
Điều luật có nội dung:
1. Người nào vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;
.....
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện Kiểm sát đã truy tố
- Người bào chữa cho bị cáo bà Đỗ Thị Xuân trình bày quan điểm bào chữa: bị cáo Lâm Văn P không có tiền sự, tiền án; Nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát truy tố. Đề nghị HĐXX cân nhắc, xem xét hành vi của bị cáo, xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm đối với bị cáo: Bị cáo thành khẩn ăn năn hối cải, bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Vì vậy, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm tù. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng, đề nghị HĐXX miễn án phí cho bị cáo theo quy định.
- Chị Triệu Thị L là vợ của bị cáo trình bày, số tiền 2.760.000,đ là tiền chung của hai vợ chồng chị L và bị cáo, số tiền trên chị L giao cho chồng là anh P giữ để chi tiêu cho gia đình số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo P nên chị L yêu cầu được trả lại số tiền này cho chị L và bị cáo.
- Anh Triệu Đức T trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu trắng đen bạc, Biển Kiểm soát 97B2- 027.31 là của anh T cho em gái là Triệu Thị L và em rể Lâm Văn P mượn, khi bị cáo P sử dụng chiếc xe mô tô này để làm P tiện vận chuyển động vật hoang dã anh không biết. Chiếc xe này là tài sản riêng của anh T. Do vậy anh Tuấn yêu cầu được trả lại chiếc xe mô tô này cho anh T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tuyên bố bị cáo Lâm Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Lâm Văn P từ 16 đến 18 tháng tù giam.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 1.380.000,đ trong tổng số tiền thu giữ của bị cáo; trả lại cho chị Triệu Thị L số tiền 1.380.000,đ trong tổng số tiền thu giữ của bị cáo.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.500.000,đ do người khác chuyển khoản cho bị cáo để mua rùa trong tổng số tiền thu giữ của bị cáo.
- Trả lại cho anh Triệu Đức T 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu trắng đen bạc, Biển Kiểm soát 97B2- 027.31, xe cũ đã qua sử dụng, hiện đang được bảo quản theo quy định của pháp luật.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì có 04 chữ ký tại mép dán phong bì một mặt phong bì ghi dòng chữ “điện thoại di động P"; 01 (một) Thùng xốp có kích thước: 60cm x 45cm x 40cm, Thùng xốp đã qua sử dụng; 01 giá chở hàng bằng kim loại của bị cáo.
- Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO loại màn hình cảm ứng của bị cáo P.
Về án phí: Bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lâm Văn P nói lời sau cùng, có ý kiến mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp..
. Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Tại phiên toà, bị cáo Lâm Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ 30 phút ngày 23/12/2022, tại Km 259 + 400 QL 279 thuộc địa phận thôn B, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Khu ngã ba đi thôn H, xã V), Lâm Văn P – Sinh năm 1994, trú tại thôn H, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn đã có hành vi vận chuyển, mua bán, tàng trữ 01 cá thể Rùa đầu to là động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo quy định của pháp luật. Mục đích mua bán, vận chuyển động vật hoang dã là để bán kiếm lời.
Như vậy, Hành vi của bị cáo vận chuyển, mua bán, tàng trữ 01 cá thể Rùa đầu to là động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
. ét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa P nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Hình sự.
. ét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự tuy nhiên: Ngày 17/12/2020 bị cáo bị Công an huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.700.000đ về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác (theo QĐ số 320/QĐ-XPHC). Cùng ngày bị cáo P nộp xong toàn bộ tiền phạt; Ngày 14/6/2021 bị Hạt kiểm lâm khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 10.000.000đ về hành vi tàng trữ, mua bán, chế biến trái phép lâm sản (theo QĐ số 933/QĐ-XPVPHC). Ngày 16/6/2021 bị cáo P nộp xong toàn bộ tiền phạt; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS đó là "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” qui định tại điểm s khoản 1 điều 51/BLHS. Bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền 1.500.000đ mà người khác chuyển khoản để mua Rùa nên được tình tiết giảm nhẹ TNHS đó là " Người phạm tội tự nguyện sữa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả" quy định tại điểm b khoản 1 điều 51/BLHS; Ngoài ra bị cáo có bố là ông Lâm Văn Lo được Sở lao động thương binh và xã hội cấp Giấy chứng nhận Bệnh binh và Giấy chứng nhận người hoạt động trong kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N bổ sung bản Cáo trạng: Xác định Lâm Văn P không có tiền sự trong vụ án đang xét xử, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là nằm trong khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố.
Đối với việc bổ sung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn về việc Lâm Văn P không có tiền sự trong vụ án này; Hội đồng xét xử xét thấy ngày 17/12/2020 bị cáo bị Công an huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.700.000đ về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác (theo QĐ số 320/QĐ-XPHC). Cùng ngày P nộp xong toàn bộ tiền phạt; Ngày 14/6/2021 bị Hạt kiểm lâm khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 10.000.000đ về hành vi tàng trữ, mua bán, chế biến trái phép lâm sản (theo QĐ số 933/QĐ-XPVPHC), ngày 16/6/2021 P nộp xong toàn bộ tiền phạt đến ngày 23/12/2022, bị cáo có hành vi vận chuyển, mua bán, tàng trữ 01 cá thể Rùa đầu to là động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm. Căn cứ khoản 1 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính bị cáo thuộc trường hợp được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy, HĐXX nhận định Lâm Văn P không có tiền sự và việc bổ sung cáo trạng là có căn cứ.
Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đối chiếu với các quy định của Bộ luật hình sự, HĐXX thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, bị cáo không có tiền án, tiền sự tuy nhiên ngày 17/12/2020 bị cáo bị Công an huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.700.000đ về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác (theo QĐ số 320/QĐ-XPHC). Cùng ngày bị cáo P nộp xong toàn bộ tiền phạt; Ngày 14/6/2021 bị Hạt kiểm lâm khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 10.000.000đ về hành vi tàng trữ, mua bán, chế biến trái phép lâm sản (theo QĐ số 933/QĐ-XPVPHC). Ngày 16/6/2021 bị cáo P nộp xong toàn bộ tiền phạt tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt hành chính nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện mà còn thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần có một mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo và áp dụng hình phạt tù buộc bị cáo đi cải tạo tập trung một thời gian nhằm giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nghề nghiệp chính của bị cáo chỉ là làm ruộng với mức thu nhập không đáng kể. Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo. Tại phiên tòa bị cáo xin được miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền, đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Do đó, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng trong vụ án:
- Đối với số tiền 2.760.000,đ không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo và chị Triệu Thị L .
- Đối với số tiền 1.500.000,đ do người khác chuyển khoản cho bị cáo để mua rùa do đó cần tịch thu sung quỹ Nhà nước
- Đối với 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu trắng đen bạc, Biển Kiểm soát 97B2- 027.31, xe cũ đã qua sử dụng, hiện đang được bảo quản theo quy định của pháp luật là P tiện bị cáo Lâm Văn P dùng để vận chuyển 01 cá thể Rùa đầu to, là động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên chiếc xe mô tô này là tài sản riêng của anh Triệu Đức T cho bị cáo và em gái ruột là chị L vợ của bị cáo mượn và anh T không biết bị cáo sử dụng chiếc xe để vận chuyển động vật loài nguy cấp, quý, hiếm. Do đó cần trả lại chiếc xe mô tô này cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Triệu Đức T.
- Đối với 01 giá chở hàng bằng kim loại bị cáo buộc trên xe mô tô làm công cụ để vận chuyển rùa xét thấy liên quan đến hành vi phạm tội và không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) phong bì có 04 chữ ký tại mép dán phong bì một mặt phong bì ghi dòng chữ “điện thoại di động P"; 01 (một) Thùng xốp có kích thước: 60cm x 45cm x 40cm, Thùng xốp đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệp OPPO loại màn hình cảm ứng của bị cáo P dùng để liên lạc mua bán rùa nên cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước:
- Đối với 01 (một) cá thể Rùa đầu to còn sống là vật chứng của vụ án, tuy nhiên là vật khó bảo quản, trông coi nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức: Bàn giao cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hà Nội để quản lý theo quy định của pháp luật. Do đó HĐXX không đặt ra xem xét xử lý.
- Đối với 08 (tám) cá thể Rùa Sa Nhân còn sống không phải vật chứng của vụ án nên Công an huyện N đã xử lý hành chính đối với Lâm Văn P và tiến hành bàn giao cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hà Nội theo quy định của pháp luật. Do đó HĐXX không đặt ra xem xét xử lý.
Về các vấn đề khác:
- Đối với người đàn ông tên Vcó nick (Facebook) HV là người đã giới thiệu và cho P số điện thoại của người có Rùa bán ở huyện Ng, tỉnh Bắc Kạn. Nhưng qua điều tra không đủ cơ sở để xác định đúng tên, địa chỉ thật của người này nên không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.
- Đối với người đàn ông đã bán 09 (chín) cá thể Rùa cho P có số điện thoại di động 0936904226. Ngày 03/02/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện N ra Lệnh thu giữ thư tín, điện tín… hiện vẫn chưa nhận được kết quả của Tổng công ty Viễn thông MobiFone nên chưa có đủ căn cứ để mở rộng điều tra vụ án. Cơ quan CSĐT Công an huyện N tách vụ việc trên để tiếp tục điều tra, xử lý khi có căn cứ là đúng.
- Đối với người đã mua lại 09 (chín) cá thể Rùa với P có tên là Tr, (Facebook) PTr; số điện thoại là 0914481886 và Tr đã chuyển khoản cho P số tiền là 1.500.000đ. Số tiền này P đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra. Ngày 03/02/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện N ra Lệnh thu giữ thư tín, điện tín... Ngày 17/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện N nhận được Công văn số 249 ngày 17/02/2023 của Ban khai thác mạng - Tổng Công ty hạ tầng mạng VNPT NET kết quả xác định: Trong thời gian từ ngày 19/12/2022 đến ngày 23/12/2022 thuê bao số 0914481886 không phát sinh cuộc gọi, tin nhắn nào trên hệ thống lưu trữ. Đồng thời không xác định được thông tin cá nhân của chủ thuê bao nói trên. Đối với số tài khoản đã chuyển tiền cho bị cáo để mua rùa cũng không xác định được thông tin cá nhân cũng như tài khoản. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện N không có căn cứ để mở rộng điều tra.
- Đối với Triệu Đức T - Sinh năm 1989, trú tại thôn D, xã V1, huyện N là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu trắng đen bạc, Biển Kiểm soát 97B2- 027.31. Ngày 23/12/2022, P sử dụng xe làm P tiện vận chuyển Rùa, tuy nhiên qua điều tra xác định T không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra Công an huyện N không xem xét xử lý đối với T là đúng.
- Đối với hành vi bị cáo Lâm Văn P vận chuyển, mua bán, tàng trữ 08 (tám) cá thể Rùa Sa nhân không phải là tội phạm nên Cơ quan điều tra đã tách ra để xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí.
Vì các lẽ trên;
QuyÕt ®Þnh:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lâm Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244, điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lâm Văn P 12 ( mười hai ) tháng tù được trừ đi thời giam tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2022 đến ngày 17/3/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 1.380.000,đ trong tổng số tiền thu giữ của bị cáo 2.760.000,đ; trả lại cho chị Triệu Thị L số tiền 1.380.000,đ trong tổng số tiền thu giữ của bị cáo 2.760.000,đ được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong dấu niêm phong của Cơ quan CSĐT mặt trước phong bì ghi “Vật chứng vụ Lâm Văn P, vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm”, mặt sau phong bì trên mép dán phong bì có 03 chữ ký và đóng 03 dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an huyện N .
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.500.000,đ được niêm phong trong 01 (một) phong bì niêm phong dấu niêm phong của Cơ quan CSĐT mặt trước phong bì ghi “Vật chứng vụ Lâm Văn P, vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm”, mặt sau phong bì trên mép dán phong bì có 03 chữ ký và đóng 03 dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an huyện N.
- Trả lại cho anh Triệu Đức T: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu trắng đen bạc, Biển Kiểm soát 97B2- 027.31, số khung RLHJA3923LY093223, số máy JA39E2097575, xe đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 giá chở hàng bằng kim loại;
+ 01 (một) Thùng xốp có kích thước: 60cm x 45cm x 40cm, Thùng xốp đã qua sử dụng cũ.
- Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO loại màn hình cảm ứng của bị cáo P được niêm phong trong 01 (một) phong bì có 04 chữ ký tại mép dán phong bì một mặt phong bì ghi dòng chữ “điện thoại di động P";
(Tình trạng vật chứng theo 02 biên bản giao nhận giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N ngày 06 / 6 /2023).
3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án/.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND huyện N; - Công an huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn; - Bị cáo; - Người bào chưa; - Người có QL, NV liên quan; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Văn thư. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lý Thị Luân |