- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án LVH phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố LVH phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________ Bản án số: 20/2023/HS-ST Ngày 01-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Quàng Thị Hỏa.
Ông Lò Văn Khẹt.
- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Chí Công - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
LVH, sinh ngày 12/12/1976, tại NC, Mường La, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản ĐX, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông LVT và con bà LTH, đều đã chết; có vợ là LTL, sinh năm 1965, có 04 con lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án: Không, tiền sự: Tại Quyết định số 26/2020/QĐ-TA ngày 23/6/2020. V/v Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian là 18 tháng; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2023; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Phương Vũ. Luật sư - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh LVC, sinh năm 2005, địa chỉ: Bản ĐX, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh LVH, sinh năm 1985, đại diện theo ủy quyền. địa chỉ: Bản ĐX, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Đều có đề nghị xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo LVH bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 06 giờ 00 phút ngày 20/6/2023, tại nhà ở bản ĐX, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang LVH, sinh ngày 12/12/1976, ở bản ĐX, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ do LVH tự giác lấy từ trong đầu giường ngủ trong nhà giao nộp: 01 lọ nhựa hình trụ màu trắng bên trong có 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa cục bột màu trắng, LVH khai là Heroine để sử dụng; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng đen bạc, BKS 26L1-155.48, xe qua sử dụng.
Ngày 20/6/2023 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:
Vật chứng thu giữ do LVH tự giác giao nộp: 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa cục bột màu trắng, LVH khai là Heroine để sử dụng có khối lượng 0,34 gam, lấy 0,34 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu H.
Cơ quan Công an huyện Mường La ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 1584/KL-KTHS ngày 22/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu ký hiệu H là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,34 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,34 gam Heroine;
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo LVH, người bào chữa không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Quá trình điều tra LVH khai nhận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 19/6/2023 LVH đi xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng đen bạc, BKS 26L1-155.48 từ nhà đến bản Giạng Phổng, xã NC, huyện Mường La, tại đây LVH có gặp và mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên và địa chỉ 01 gói Heroine với giá 100.000, đồng cất giấu mang về nhà, đã sử dụng một ít, số còn lại cất vào lọ nhựa, cất ở đầu giường ngủ, mục đích để sử dụng, đến 06 giờ 00 phút ngày 20/6/2023 thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Về nguồn gốc ma túy LVH khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ với số tiền 100.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của LVH.
2
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo LVH đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Bản cáo trạng số: 99/CT-VKS-ML ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo LVH về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo LVH phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt LVH từ 18 đến 24 tháng tù;
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ có viền xanh đỏ đã bóc mở; 01 lọ nhựa hình trụ màu trắng; 01 mảnh nilon màu trắng ban đầu (đều được niêm phong).
Chấp nhận cơ quan công an đã trả lại cho anh LVC 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng đen bạc, BKS 26L1-155.48, xe qua sử dụng. Được xác định là tài sản của anh LVC, khi LVH mang đi mua ma túy, anh LVC không biết.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo,
3
người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Bị cáo LVH thừa nhận: Hồi 06 giờ 00 phút ngày 20/6/2023, tại nhà ở bản ĐX, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,34 gam, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: LVH đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, cần có mức hình phạt nhằm giáo dục bị cáo.
Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo chưa có tiền án, có tiền sự: Tại Quyết định số 26/2020/QĐ-TA ngày 23/6/2020. V/v Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian là 18 tháng. Bị cáo thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ có viền xanh đỏ đã bóc mở; 01 lọ nhựa hình trụ màu trắng; 01 mảnh nilon màu trắng ban đầu (đều được niêm phong).
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng đen bạc, BKS 26L1-155.48, xe qua sử dụng. Được xác định là tài sản của anh LVC, khi LVH mang đi mua ma túy, anh LVC không biết, cơ quan công an trả lại xe cho anh LVC là có căn cứ chấp nhận.
Về nguồn gốc ma túy LVH khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ với số tiền 100.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của LVH, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.
4
Do bị cáo không có đơn và tài liệu miễn án phí, đồng thời bị cáo có nguyện vọng được nộp án phí, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố LVH phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo LVH 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 20/6/2023.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ có viền xanh đỏ đã bóc mở; 01 lọ nhựa hình trụ màu trắng; 01 mảnh nilon màu trắng ban đầu (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 20/6/2023). Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
Chấp nhận cơ quan công an đã trả cho anh LVC 01 xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng đen bạc, BKS 26L1-155.48, xe qua sử dụng.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo LVH phải chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 01/11/2023. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mường La (2); - Công an huyện Mường La; - THAHS; - Chi cục THA dân sự huyện Mường La; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: Hồ sơ, án văn. 5 6 | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Nguyễn Minh Tuấn |