- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q và các bị cáo khác phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/HS-ST Ngày: 13-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Bùi Thị Cẩm
+ Bà Lê Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thịnh, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Hiển – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn Q, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1979, tại Đức Phổ, Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12;
Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1941 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1946;
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 04/12/2019 bị Công an thị xã Đức Phổ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (đã chấp hành xong).
- Ngày 11/11/2022 bị Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt tiền về tội “Đánh bạc”. Bị cáo chưa chấp hành xong.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/02/2023 đến ngày 24/4/2023. Ngày 10/5/2023 tiếp tục bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn C, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1976, tại Đức Phổ, Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Nghề nghiệp: Quản lý trang thiết bị y tế tại Bệnh viện; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12;
Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1937 và bà Nguyễn Thị T (đã chết);
Vợ: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1980;
Con: Có 01 con sinh năm 2010.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/02/2023 đến ngày 24/4/2023. Ngày 10/5/2023 tiếp tục bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Dương Công L, sinh ngày 11 tháng 8 năm 1984, tại Đức Phổ, Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12;
Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Dương Văn M, sinh năm 1954 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1959;
Vợ: Đào Thị C, sinh năm 1991;
Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/02/2023 đến ngày 24/4/2023. Ngày 10/5/2023 tiếp tục bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Đức B, sinh ngày 18 tháng 3 năm 1981, tại Đức Phổ, Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12;
Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn D1, sinh năm 1947 và bà Trần Thị B1, sinh năm 1951;
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/02/2023 đến ngày 24/4/2023. Ngày 10/5/2023 tiếp tục bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5. Dương Công C1, sinh ngày 28 tháng 5 năm 1983, tại Đức Phổ, Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12;
Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Dương T, sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết);
Vợ: Lê Thị Bạch T2, sinh năm 1987;
Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/02/2023 đến ngày 24/4/2023. Ngày 10/5/2023 tiếp tục bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 06/12/2022, sau khi nhậu xong tại nhà ông Phạm M ở Tổ dân phố L, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi thì Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Q, Dương Công L, Nguyễn Đức B và Dương Công C1 thỏa thuận đến nhà Nguyễn Văn C để đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài cát tê. Nguyễn Văn C mua 04 bộ bài tây mang về nhà để đánh bạc với những người nêu trên. Các bị cáo quy ước bài ai thắng thì được 40.000đồng, tương ứng mỗi người còn lại thua thì chung cho người thắng 10.000đồng, nếu người nào thắng đánh triệt (rụng tùng) hết tất cả 04 người còn lại thì mỗi người thua phải chung 20.000đồng, người thắng được 80.000đồng.
Khi đánh bạc thì Nguyễn Văn C có số tiền 1.500.000đồng, Nguyễn Văn Q có số tiền 5.220.000đồng, Dương Công L có số tiền 1.050.000đồng, Nguyễn Đức B có số tiền 1.220.000đồng và Dương Công C1 có số tiền 825.000đồng. Các bị cáo sử dụng toàn bộ số tiền mình có trong người để đánh bạc với nhau. Việc đánh bạc diễn ra liên tục đến 20 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an phường Phổ Vinh phát hiện, lập biên bản vụ việc và tạm giữ toàn bộ số tiền đánh bạc, các vật chứng khác phục vụ cho việc đánh bạc. Sau đó, vụ việc được chuyển cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Đức Phổ giải quyết theo thẩm quyền.
Tại cáo trạng số 14/CT-VKS-ĐP ngày 04/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn C, Dương Công L, Nguyễn Đức B và Dương Công C1 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn C, Dương Công L, Nguyễn Đức B và Dương Công C1 phạm tội “Đánh bạc”;
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 09 đến 12 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 58, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 25.000.000đồng đến 30.000.000đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 58, các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt các bị cáo Dương Công L, Nguyễn Đức B và Dương Công C1, mỗi bị cáo từ 20.000.000đồng đến 25.000.000đồng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 9.815.000đồng các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc trái phép;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái mền; 04 (bốn) bộ bài Tây 52 lá, trong đó 03 (ba) bộ đã qua sử dụng và 01 (một) bộ chưa qua sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Đức Phổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn C, Dương Công L, Nguyễn Đức B và Dương Công C1 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06/12/2022, tại nhà bị cáo Nguyễn Văn C ở Tổ dân phố L, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi, các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn C, Dương Công L, Nguyễn Đức B và Dương Công C1 đã cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài cát tê thắng thua bằng tiền. Tổng số tiền mà các bị cáo dùng vào việc đánh bạc trái phép là 9.815.000đồng.
Khi thực hiện hành vi đánh bạc trái phép nêu trên thì các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn C, Dương Công L, Nguyễn Đức B và Dương Công C1 đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, các bị cáo đều nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Việc các bị cáo đánh bạc dưới hình thức đánh bài cát tê thắng thua bằng tiền là hình thức đánh bạc nhiều người cùng đánh với nhau nên các bị cáo phải cùng chịu trách nhiệm đối với tổng số tiền đánh bạc trái phép như đã nêu trên. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn C, Dương Công L, Nguyễn Đức B và Dương Công C1 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, các bị cáo đều thực hiện tội phạm với vai trò là người thực hành. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra để răn đe, giáo dục bị cáo trong việc chấp hành pháp luật, cũng như để phòng ngừa chung tội phạm.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn Q: Ngày 04/12/2019 bị Công an thị xã Đức Phổ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép (bị cáo đã chấp hành xong). Ngày 11/11/2022 bị Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt tiền 20.000.000đồng về tội “Đánh bạc” tại bản án số 38/2022/HS-ST (đến nay bị cáo vẫn chưa thi hành khoản tiền phạt nêu trên). Khi bản án nêu trên chưa có hiệu lực pháp luật thì ngày 06/12/2022 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép. Do tại thời điểm bị cáo Nguyễn Văn Q thực hiện hành vi đánh bạc trái phép vào ngày 06/12/2022 thì bản án số 38/2022/HS-ST ngày 11/11/2022 chưa có hiệu lực pháp luật nên hành vi của bị cáo không thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại khoản 1 Điều 53 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, hành vi nêu trên của bị cáo thể hiện thái độ coi thường pháp luật, hình phạt tiền mà Tòa án đã áp dụng đối với bị cáo chưa đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trong việc chấp hành pháp luật. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn đối với bị cáo và cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Q đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có cha là ông Nguyễn Văn D là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng “Huân chương kháng chiến hạng ba” và tặng “Kỷ niệm chương Chiến sỹ cách mạng bị địch bắt, tù đày” nên cần xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn C: Ngày 06/12/2022 bị cáo là người trực tiếp đi mua bài và chuẩn bị mền để phục vụ cho việc đánh bạc. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tiền với mức hình phạt nghiêm khắc để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; ngoài ra, bị cáo còn có cha là ông Nguyễn Ngọc P là người có công với cách mạng, được hưởng chính sách như thương binh nên cần xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
Đối với các bị cáo Dương Công L, Nguyễn Đức B và Dương Công C1: Ngày 06/12/2022 các bị cáo Dương Công L, Nguyễn Đức B và Dương Công C1 trực tiếp tham gia đánh bạc trái phép cùng với các bị cáo Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn C, các bị cáo đều thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người thực hành. Do đó, cần xử phạt các bị cáo hình phạt tiền với mức hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn Q làm biển, thu nhập không ổn định; các bị cáo khác đã bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 9.815.000đồng thu giữ tại chiếu bạc và trong người của các bị cáo. Qua quá trình điều tra xác định toàn bộ số tiền nêu trên các bị cáo đều dùng vào việc đánh bạc trái phép. Do đó, cần tịch thu toàn bộ số tiền nêu trên sung ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 (một) cái mền; 04 (bốn) bộ bài Tây 52 lá, trong đó 03 (ba) bộ đã qua sử dụng và 01 (một) bộ chưa qua sử dụng. Đây là các vật chứng các bị cáo sử dụng để phục vụ cho việc đánh bạc trái phép, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn C, Dương Công L, Nguyễn Đức B và Dương Công C1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 25.000.000đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Dương Công L phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Dương Công L 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng).
4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức B phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức B 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng).
5. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Dương Công C1 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Dương Công C1 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng).
6. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 9.815.000đồng (chín triệu tám trăm mười lăm nghìn đồng), theo ủy nhiệm chi ngày 12/6/2023 giữa Công an thị xã Đức Phổ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái mền; 04 (bốn) bộ bài Tây 52 lá, trong đó 03 (ba) bộ đã qua sử dụng và 01 (một) bộ chưa qua sử dụng.
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 09/6/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Đức Phổ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ).
7. Về án phí:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn C, Dương Công L, Nguyễn Đức B và Dương Công C1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
8. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND thị xã Đức Phổ; - CQCSĐT Công an thị xã Đức Phổ; - Cơ quan THAHS Công an thị xã Đức Phổ; - Phòng NVLT Công an thị xã Đức Phổ; - Chi Cục THADS thị xã Đức Phổ; - Các bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án. Các thành viên Hội đồng xét xử | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Phong Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |