vanban.org

Bản án 20/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 30/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Tống Quang P, Nguyễn Trọng C, Bùi Viết C1, Ngô Quang T1, phạm tội “Đánh bạc”.

Nguyễn Trọng C: 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án 1. Tống Quang P: 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân xã TP, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội nhận được bản án có hiệu lực pháp luật và quyết định thi hành án …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tống Quang P và đồng phạm - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Tống Quang P, Nguyễn Trọng C, Bùi Viết C1, Ngô Quang T1, phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HS-ST
Ngày: 30-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP. HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trung Úy; bà Nguyễn Thị Thanh Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Kiểm sát viên.

Ngày 30/3/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2023/TLST - HS ngày 06 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HS ngày 17/3/2023 đối với các bị cáo:

1. Tống Quang P, sinh năm 1978; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn ĐN, xã TP, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Tống Quang Tr (đã chết), con bà Tống Thị Q, sinh năm 1953; Vợ: Nguyễn Thị T và có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2004; Danh chỉ bản số 721 lập ngày 16/12/2022 tại Công an huyện Chương Mỹ. Tiền án, tiền sự : Không

Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Trọng C, sinh năm 1979; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn ĐN, xã TP, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Trọng Đ, sinh năm 1953, con bà Trương Thị Q1, sinh năm 1957; Vợ: Nguyễn Thị Thùy L và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2019; Danh chỉ bản số 722 lập ngày 16/12/2022 tại Công an huyện Chương Mỹ;.

Tiền sự: Không

Tiền án: Ngày 17/3/2020, TAND huyện Chương Mỹ xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành án xong ngày 05/02/2021, nộp án phí HSST ngày 17/3/2020.

Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

3. Ngô Quang T1, sinh năm 1989; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và cư trú: TDP HS, thị trấn Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông: Ngô Quang T2, sinh năm 1969, con bà: Đặng Thị S, sinh năm 1969; Vợ: Nguyễn Thị Thanh T3 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2020; Danh chỉ bản số 719 lập ngày 16/12/2022 tại Công an huyện Chương Mỹ; Tiền án, Tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

4. Bùi Viết C1, sinh năm 1974; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT: Tổ x, phường LB, quận LB, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: TDP xx, phường YN, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Hưu trí; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Bùi Viết T4 (đã chết), con bà: Vũ Thị H, sinh năm 1940; Vợ: Nguyễn Thị Th và có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2008; Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam bị đình chỉ sinh hoạt đảng số 66-QĐ/UBKTQU ngày 02/3/2023 của Ủy ban kiểm tra Quận ủy Hà Đông. Danh chỉ bản số 720 lập ngày 16/12/2022 tại Công an huyện Chương Mỹ; Tiền án, Tiền sự: Không

Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Tống Quang P: Bà Phan Hà My – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội: Do bị cáo là người khuyết tật. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08/12/2022, Tống Quang P đang ở nhà tại thôn ĐN, xã TP, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội thì có Bùi Viết C1, Ngô Quang T1, Nguyễn Trọng C lần lượt đến nhà P chơi. Tại đây, cả bốn đối tượng cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “chắn quăng” được thua bằng tiền. P đồng ý cho các đối tượng đánh bạc tại nhà của mình, đồng thời lấy 01 chiếu cói, 01 đĩa men sứ, 01 bộ bài chắn 100 quân bài và cùng tham gia đánh bạc hình thức đánh “chắn” và quy định: “Xuông” 10.000 đồng, “dịch” 5.000 đồng, “tôm” 20.000 đồng, “bạch thủ” 20.000 đồng, “lèo” 30.000 đồng, “bạch thủ chì” 70.000 đồng, “bạch định” 80.000 đồng, “tám đỏ” 90.000 đồng. Nếu ai ù các cước: “Bạch định, tám đỏ, bạch thủ chì” sẽ phải bỏ tiền “gà” mỗi ván là 10.000 đồng cho P chủ nhà.

Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị Công an huyện Chương Mỹ phối hợp cùng Công an xã TP phát hiện, bắt quả tang thu giữ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở để làm việc.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 chiếu cói; 01 bộ bài chắn gồm 100 quân bài; 01 đĩa men sứ;

- Tổng số tiền thu giữ: 9.190.000 đồng (Trong đó: 50.000 đồng tiền gà; 2.870.000 đồng trên chiếu bạc; 500.000 đồng do Nguyễn Trọng C giao nộp; 5.770.000 đồng do Tống Quang P giao nộp).

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:

1. Tống Quang P: là chủ nhà, chuẩn bị dụng cụ và tham gia đánh bạc cùng các đối tượng và được hưởng tiền gà từ các đối tượng đánh bạc. Khi đánh bạc P có 6.270.000 đồng sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt P bỏ tiền xuống chiếu bạc nên không rõ thắng thua, còn số tiền 5.770.000 đồng trên người P đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an.

2. Bùi Viết C1 mang theo số tiền 460.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt C1 bỏ tất cả tiền xuống chiếu bạc nên không rõ thắng thua.

3. Nguyễn Trọng C mang theo số tiền 960.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. C ù 02 ván bỏ ra ngoài 20.000 đồng tiền “gà”. Khi bị bắt C bỏ tiền xuống chiếu bạc không rõ thắng thua, còn số tiền 500.000 đồng trên người C đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an.

4. Ngô Quang T1 mang theo 1.500.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. T1 ù 03 ván bỏ ra ngoài 30.000 đồng tiền “gà”. Khi bị bắt T1 bỏ tất cả tiền xuống chiếu bạc không rõ thắng thua.

Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 9.190.000 đồng.

Ngoài hành vi đánh bạc nêu trên, Cơ quan điều tra còn làm rõ khoảng 14 giờ ngày 06/12/2022, Tống Quang P, Bùi Viết C1, Ngô Quang T1; Nguyễn Trọng C tham gia đánh bạc tại nhà P dưới hình thức đánh “chắn quăng” được thua bằng tiền, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 3.270.000 đồng. Ngày 07/02/2023, Công an huyện Chương Mỹ đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tống Quang P, Bùi Viết C1, Ngô Quang T1; Nguyễn Trọng C về hành vi “Đánh bạc”.

Tại Bản Cáo trạng số 11/CT-VKS- CM ngày 27/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố: Tống Quang P, Bùi Viết C1, Ngô Quang T1, Nguyễn Trọng C về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo khai nhận toàn bộ diễn biến thực hiện hành vi đánh bạc và sử dụng số tiền vào đánh bạc như nội dung Cáo trạng đã nêu. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Tống Quang P, Nguyễn Trọng C, Ngô Quang T1, Bùi Viết C1 phạm tội “Đánh bạc”. Đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trọng C; Đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sựđối với cả 4 bị cáo; “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” đối với các bị cáo Tống Quang P, Ngô Quang T1, Bùi Viết C1, theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bùi Viết C1 quá trình công tác được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huy chương Chiến sĩ vẻ vang, huy chương Quân kỳ quyết thắng thuộc trường hợp người phạm tội là “người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác” theo điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS. Tống Quang P là người khuyết tật nặng, là con đẻ của Liệt sỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Đề nghị áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự đối với Tống Quang P, Ngô Quang T1; áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự đối với Bùi Viết C1,

+ Đề nghị mức phạt cụ thể đối với từng bị cáo như sau: Bị cáo P, T1 mỗi bị cáo từ 12 – 15 tháng Cải tạo không giam giữ. Bị cáo C từ 09 – 12 tháng tù. Bị cáo C1 phạt 20.000.000 đồng.

+ Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

+ Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếu cói; 01 bộ bài chắn gồm 100 quân bài; 01 đĩa men sứ; Tịch thu sung công: 9.190.000 đồng. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

- Người bào chữa cho bị cáo Tống Quang P trình bày bản luận cứ: Đề nghị cho bị cáo P được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo P được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật, hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng, thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với bị can; về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, thu giữ vật chứng, về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho các bị can. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không khiếu nại về các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên; không khiếu nại về việc bị Điều tra viên, Kiểm sát viên mớm cung, ép cung, bức cung, nhục hình. Các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.

. Về nội dung:

Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, thấy phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08/12/2022, tại nhà ở của Tống Quang P thuộc thôn ĐN, xã TP, Chương Mỹ, Hà Nội, P đã lấy 01 chiếu cói, 01 đĩa men sứ, 01 bộ bài chắn 100 quân bài và cùng Bùi Viết C1, Ngô Quang T1, Nguyễn Trọng C tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh “chắn quăng”, sát phạt nhau bằng tiền. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Chương Mỹ phối hợp với Công an xã TP phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 9.190.000 đồng.

Hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “chắn quăng” được thua bằng tiền, với số tiền 9.190.000 đồng của các bị cáo Tống Quang P, Bùi Viết C1, Ngô Quang

” T1, Nguyễn Trọng C đã phạm vào tội“Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự

Đối với việc Tống Quang P đã sử dụng nhà ở của mình để làm địa điểm đánh bạc và cung cấp dung cụ đánh bạc: 01 chiếu cói, 01 đĩa men sứ, 01 bộ bài chắn 100 quân bài cho các đối tượng sử dụng để đánh bạc, có dấu hiệu của tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, đối tượng tham gia đánh bạc tại nhà P là 04 người (dưới 10 người) và chỉ có 01 chiếu bạc, số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 9.190.000 đồng (dưới 20.000.000 đồng), nên hành vi của Tống Quang P không phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Tống Quang P, Bùi Viết C1, Ngô Quang T1, Nguyễn Trọng C về tội “Đánh bạc” theo điều khoản nói trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi đánh bạc của các bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân gây ra những tội phạm khác, gây ra những hệ lụy cho xã hội; cả 4 bị cáo này đều có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét vai trò, mức độ tham gia phạm tội, cũng như nhân thân của từng bị cáo như sau:

- Đối với Tống Quang P: là người đồng ý cho các bị cáo đánh bạc tại nhà ở của mình, trực tiếp chuẩn bị dụng cụ và trực tiếp tham gia đánh bạc, sử dụng số tiền đánh bạc nhiều nhất, nên P giữ vai trò chính trong vụ án, do vậy hình phạt áp dụng đối với bị cáo cao nhất.

- Đối với Nguyễn Trọng C: Tuy bị cáo sử dụng số tiền đánh bạc ít nhưng là người có tiền án: Ngày 17/3/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành án xong ngày 05/02/2021, nên lần phạm tội này của C thuộc trường hợp “tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đối với C phải áp dụng hình phạt tù cách ly với xã hội một thời gian nhất định.

- Đối với bị cáo Ngô Quang T1, Bùi Viết C1 thì T1 sử dụng số tiền đánh bạc nhiều hơn C1, nên mức hình phạt áp dụng đối với T1 phải nghiêm khắc hơn C1.

Xét thấy: Cả bốn bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “thành khẩn khai báo”, “ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ba bị cáo: Tống Quang P, Bùi Viết C1, Ngô Quang T1 đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; cả 03 bị cáo này đều có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Tống Quang P là người khuyết tật nặng, là con đẻ của Liệt sỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo P và bị cáo T1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần cách ly các bị cáo với xã hội, nên cho hai bị cáo Cải tạo tại địa P dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa P theo quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự. Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo P, T1 theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự do các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có thu nhập ổn định.

Đối với Bùi Viết C1 trong quá trình công tác được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huy C1 Chiến sĩ vẻ vang, huy C1 Quân kỳ quyết thắng, thuộc trường hợp “người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác” theo điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Để có chính sách khoan hồng và cho bị cáo cơ hội sửa chữa, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự.

Do các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng đã thu giữ:

- 01 chiếu cói; 01 đĩa men sứ; 01 bộ bài chắn gồm 100 quân bài được sử dụng vào việc đánh bạc nên áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ.

- Số tiền thu giữ là 9.190.000 đồng là số tiền đã được sử dụng vào việc đánh bạc nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Tống Quang P, Nguyễn Trọng C, Bùi Viết C1, Ngô Quang T1, phạm tội “Đánh bạc”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, phạt:

Nguyễn Trọng C: 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án

3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51(đối với bị cáo P); Điều 36 Bộ luật hình sự, phạt:

3.1. Tống Quang P: 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân xã TP, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội nhận được bản án có hiệu lực pháp luật và quyết định thi hành án phạt Cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo Tống Quang P.

Giao bị cáo Tống Quang P cho UBND xã TP, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

3.2. Ngô Quang T1: 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân thị trấn Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội nhận được bản án có hiệu lực pháp luật và quyết định thi hành án phạt Cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo Ngô Quang T1

Giao bị cáo Ngô Quang T1 cho UBND thị trấn Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, v khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, phạt:

Bùi Viết C1: 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

4. Áp dụng: khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

4.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đĩa men sứ; 01 (một) chiếu cói; 01 (một) bộ bài chắn gồm 100 quân bài

4.2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 9.190.000 (chín triệu, một trăm chín mươi ngàn đồng)

(Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/3/2023. Toàn bộ số tiền trên hiện đang tạm giữ tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ tại Kho bạc Nhà nước huyện Chương Mỹ theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1052753.00000 ngày 03/3/2023).

5. Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Tống Quang P, Bùi Viết C1, Ngô Quang T1, Nguyễn Trọng C, mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo Tống Quang P, Bùi Viết C1, Ngô Quang T1, Nguyễn Trọng C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ