vanban.org

Bản án 20/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 28/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn c điểm c khoản 1 khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 03 năm t , được trừ thời gian bị tạm giữ (từ ngày 22/12/2022 đến ngày 29/12/2022), thời hạn t t nh từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt t của bản án Xử… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ ĐỒN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HS - ST
Ngày 28/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Mẫn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Nam

2. Ông Nguyễn Viết Tác

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Vương Đ c Ch nh – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2023/TLST - HS ngày 29/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST- HS ngày 14/4/2023 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T (tên gọi khác không); sinh năm 1970; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T và con bà Nông Thị Đ vợ: Hoàng Thị C; con: 02 con; tiền án: Tại Bản án số 16/2017/HSST ngày 04/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2010 bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 1004/QĐ-UBND ngày 04/8/2010 của UBND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn; bị tạm giữ từ ngày 22/12/2022 đến ngày 29/12/2022 thì được hủy b và áp dụng biện pháp ngăn ch n Cấm đi kh i nơi cư trú cho đến nay, bị cáo tại ngoại c m t tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị C; sinh năm 1970; trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Có đơn xin xét xử vắng m t).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:

Hồi 14 giờ 15 phút ngày 22/12/2022, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Chợ Đồn đang làm nhiệm vụ tại đoạn đường tại thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện bắt quả tang Hoàng Văn T, trú tại thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đang c hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm:

- 01(một) gói nilon trong suốt bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng có nhiều dòng chữ in màu đen bên trong ch a cục và bột màu trắng do Tuấn tự nguyện xuất trình từ túi áo khoác bên phải T đang m c; 01 (Một) xe mô tô HONDA FutureX, màu bạc, xám, đen, BKS 97B1- 043.34.

Tiến hành trích mẫu cục và bột màu trắng trên vào thuốc thử phát hiện nhanh các chất ma túy (Thuốc thử heroine) do Bộ công an sản xuất, kết quả thuốc thử chuyển sang màu tím, phản ng dương t nh với chất ma túy loại Heroine (Được niêm phong vào phong bì ký hiệu T1).

Tại biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn lập hồi 16 giờ 15 phút, ngày 22 tháng 12 năm 2022 xác định: Cân riêng toàn bộ cục và bột màu trắng có trong phong bì ký hiệu T1 có khối lượng là 3,84g (Ba phẩy tám bốn gam) niêm phong trong phong bì mới T2 để gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn giám định. Còn v phong bì niêm phong ban đầu T1 và 01(Một) gói nilon trong suốt bên trong có 01 (Một) gói giấy màu trắng có nhiều dòng chữ in màu đen được cho vào trong phong bì mới niêm phong ký hiệu T3.

Tại Kết luận giám định số: 14/KL-KTHS ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn Kết luận: “Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột bên trong phong bì ký hiệu T2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 3,84g (Ba phẩy tám bốn gam).

Quá trình điều tra, truy tố Hoàng Văn T khai nhận: 01 (Một) gói nh có ch a cục và bột màu trắng mà Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang là ma túy, loại Heroine do T mua về với mục đ ch sử dụng cá nhân, cụ thể: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 22/12/2022, T một mình điều khiển xe mô tô BKS 97B1- 043.34 đi ra thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi T điều khiển xe mô tô ra đến khu vực cầu số 5, thuộc thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì T g p một người đàn ông khoảng 40 tuổi (Không rõ họ, tên, địa chỉ) trông giống người nghiện, nên T đã dừng xe h i mua ma túy thì được người này đồng ý bán. T đưa cho người trên số tiền 4.500.000 đồng rồi người này đưa lại cho 01 (Một) g i ma tuý được gói bởi túi nilon trong suốt, bên trong là gói giấy màu trắng có chữ in, bên trong có ch a cục và bột màu trắng là ma túy loại Heroine. Sau đ , T cất gói ma tuý vừa mua được vào túi áo khoác bên phải đang m c rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi về đến đoạn đường thuộc thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì T bị tổ công tác Công an huyện Chợ Đồn bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy.

Về vật ch ng:

Đối với số ma túy (Heroine) thu giữ của Hoàng Văn T sau khi giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu T2 còn lại 3,75g (Ba phẩy bảy năm gam) cùng phong bì, bao g i cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T12 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (Một) phong bì ký hiệu T3 bên trong có ch a v phong bì niêm phong, bao g i cũ ban đầu hiện đang tạm giữ tại kho vật ch ng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn chờ xử lý.

Đối với 01 (một) xe mô tô HONDA Future, màu bạc, xám, đen, BKS 97B1-043.34, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên được bà Hoàng Thị C (bà Công là vợ của bị cáo T) mua xe với bà Nông Thị M, trú tại thôn B, xã Đ, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn năm 2012. Ngày 22/12/2022, khi T lấy xe đi thì bà C không biết T sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy. Hiện chiếc xe đang tạm giữ tại kho vật ch ng Chi cục Thi hành án dân sự Chợ Đồn chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 21/CT - VKSCĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; về hình phạt đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 03 năm đến 04 năm t ; về hình phạt bổ sung đề nghị xử phạt phạt tiền đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; về xử lý vật ch ng áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 3,75g ma túy loại Heroine hoàn lại sau giám định c ng các loại phong bì và bao g i liên quan đến số ma túy, tịch thu ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu HONDA Future, màu bạc, xám, đen, BKS 97B1- 043.34 phần của bị cáo để sung quỹ Nhà nước, trả lại 1/2 giá trị xe còn lại cho bà Hoàng Thị C phần của bà C; về án ph : Bị cáo phải chịu án ph Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại đơn xin xét xử vắng m t của người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan bà Hoàng Thị C đề nghị được trả lại xe mô tô HONDA FutureX, màu bạc, xám, đen, BKS 97B1- 043.34.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo n i lời sau c ng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu c trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Đồn, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Chợ Đồn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không c ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T khai nhận: Hồi 14 giờ 15 phút ngày ngày 22/12/2022, khi bị cáo đi mua ma túy về đến khu vực thôn B, xã Q, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn thị bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Chợ Đồn bắt quả tang, thu giữ trên người 01 gói ma túy (Heroine). Số ma túy này bị cáo mua của một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ với số tiền 4.500.000 đồng vào hồi 14 giờ ngày 22/12/2022 tại khu vực cầu số 5, thuộc thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để sử dụng. Tổng khối lượng ma tuy bị cáo tàng trữ là 3,84g (Ba phẩy tám bốn gam) loại Heroine.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, ph hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang và ph hợp với các ch ng c , tài liệu c trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn c để kết luận: Hành vi tàng trữ trái phép 3,84g (Ba phẩy tám bốn gam) ma túy Heroine của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số: 21/CT – VKSCĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn truy tố là c căn c , đúng pháp luật.

3 Về t nh chất hành vi của bị cáo thực hiện: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương.

4 Về tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội này bị cáo c 01 (một) tiền án, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ là ông Hoàng Văn T được Nhà nước t ng thưởng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và có một tiền án do vậy xác định bị cáo c nhân thân xấu.

5 Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá t nh chất, m c độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng m c hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra kh i đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Ngoài hình phạt ch nh theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn c thể bị bổ sung là phạt tiền. Qua các tài liệu, ch ng c đã được thu thập và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo c tài sản, c khả năng để thi hành hình phạt bổ sung. Do đ cần xử phạt phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

6 Về xử lý vật ch ng:

Đối với 3,75g (Ba phẩy bảy năm gam) ma túy loại Heroine hoàn lại sau giám định là loại vật ch ng Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành c ng các loại phong bì và bao g i liên quan đến số ma túy đều không c giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) xe mô tô HONDA Future, màu bạc - xám - đen, BKS 97B1-043.34 bị cáo sử dụng để đi mua ma túy được bà Hoàng Thị C (vợ bị cáo Hoàng Văn T) mua lại với bà Nông Thị M vào năm 2012. Bà C cho rằng xe mô tô trên là tài sản riêng của bà nên bà đề nghị được trả lại xe. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản được tạo lập trong thời k hôn nhân giữa bà Hoàng Thị C và bị cáo Hoàng Văn T, bà C không cung cấp tài liệu, ch ng c ch ng minh xe mô tô trên là tài sản riêng. Do vậy xác định xe mô tô trên là tài sản chung của vợ chồng bà C với bị cáo T. Bị cáo T đã sử dụng chiếc xe mô tô trên làm phương tiện để đi mua ma túy, do vậy xác định chiêc xe mô tô trên là công cụ, phương tiện d ng vào việc phạm tội nên cần tịch thu h a giá để sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Trường hợp bà Hoàng Thị C có tranh chấp về quyền sở hữu ho c yêu cầu bị cáo bồi thường một phần giá trị của chiếc xe mô tô mà bị cáo dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Đối với người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ theo lời khai của bị cáo là người đã bán ma túy (Heroine) cho bị cáo tại khu vực cầu số 5, thuộc thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Quá trình điều tra bị cáo không cung cấp được danh t nh, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn c để điều tra, xử lý.

8 Đối với bà Hoàng Thị C là đồng sở hữu xe mô tô HONDA Future, màu bạc – xám - đen, BKS 97B1- 04334, qua điều tra xác định bà C không biết việc bị cáo sử dụng xe của bà để đi mua trái phép chất ma túy nên không c căn c để xử lý trách nhiệm đối với bà C.

9 Về án ph : Căn c Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án ph , lệ ph tòa án. Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng án ph Hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn c điểm c khoản 1 khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 03 năm t , được trừ thời gian bị tạm giữ (từ ngày 22/12/2022 đến ngày 29/12/2022), thời hạn t t nh từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt t của bản án

Xử phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Hoàng Văn T 5.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

2. Về xử lý vật ch ng: Căn c điểm a điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T12 (bên trong phong bì ch a 3,75g ma túy loại Heroine, cùng phong bì, bao gói cũ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn hoàn trả lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn); 01 (một) phong đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T3, bên trong ch a v phong bì niêm phong, bao g i cũ ban đầu.

- Tịch thu h a giá để sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô HONDA Future, màu bạc - xám - đen, biển kiểm soát 97B1- 043.34, số máy 0700346, số khung 500198, xe đã qua sử dụng (có kèm chìa kh a xe) và 01 Đăng ký mô tô, xe máy số 017466 cấp ngày 22/6/2011, tên chủ xe Nông Thị M.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn).

3. Về án ph : Căn c Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định m c thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án ph , lệ ph Tòa án.

Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng án ph Hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

"Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo c m t tại phiên tòa c quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan vắng m t tại phiên tòa c quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ