vanban.org

Bản án 20/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 25/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy do bị cáo Nguyễn Văn T thực hiện - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HS-ST
Ngày 25/4/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Chí Công

2. Bà Nguyễn Hải Anh

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Cẩm Nhung– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Vƣơng– Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2023/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2023 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 04 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T (tên gọi khác: không), sinh ngày 12/02/1996 tại tỉnh G; nơi cư trú: ấp 1, xã P, huyện T, tỉnh G; nghề nghiệp: Ngư phủ; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1971 và bà Dương Thị Thu D, sinh năm 1971; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Tuy nhiên, ngày 15/02/2023 Thanh bị Tòa án Quân sự khu vực Quân khu 9 tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù về tội chống người thi hành công vụ, xảy ra ngày 21/7/2022 tại Vùng biển thuộc thẩm quyền tuần tra kiểm soát của Bộ tư lệnh Vùng cảnh sát biển 4.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2022 (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người làm chứng: Chị Lý Hồng D, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn L, huyện T, tỉnh G.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn T, sinh ngày 12/02/1996, cư trú: ấp 1, xã P, huyện T, tỉnh G là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 17/12/2022, T đi đến quán cà phê “Pha Lê” thuộc khu phố P, thị trấn L, huyện T, tỉnh G để uống cà phê. Tại đây, T gặp một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ, Trước đây T đã từng mua ma túy của người này). Do muốn sử dụng ma túy nên T đi đến hỏi mua ma túy với số tiền 700.000 đồng, thì người này đồng ý bán. Người này đưa cho T một bịch ma túy đá. T trả cho người này 700.000 đồng.

Đến khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày, khi T đang cầm bịch ma túy đá trên tay phải và chuẩn bị đi về thì bị lực lượng chức năng đến kiểm tra, do hoảng sợ nên T đã ném bịch ma túy đá trên tay phải xuống đất cách vị trí chân trái của T đang đứng 0,5m. Cơ quan chức năng đã tiến hành bắt giữ T đồng thời thu giữ tại vị trí cách chân của T 0,5m một bịch nylon màu trắng, được hàn kín, kích thước 2cm x 3,5cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất nghi là chất ma túy, đã được niêm phong theo đúng quy định.

Sau khi bắt quả tang T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, lực lượng chức năng đã đưa T về Công an huyện Châu Thành để làm việc. Tại đây, T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Bản kết luận giám định số: 1221/KL-KTHS ngày 22 tháng 12 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận giám định:

Các hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,5750 gam.

(Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/08/2022 của Chính phủ)

- Đồ vật, tài liệu thu giữ, tạm giữ gồm:

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ và nhập kho các vật chứng: Nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất còn lại sau giám định có khối lượng là 0,5478 gam, đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 1221/2022, ngày 22/12/2022, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Lượng, giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang.

Tại bản cáo trạng số: 21/CT- VKS- CT ngày 29/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Áp dụng Điều 56 BLHS, tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù của Bản án số 01/2023/HS-ST ngày 15/02/2023 của Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 9. Buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt của hai bản án.

Về biện pháp tư pháp đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; xử tịch thu tiêu hủy: Nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất còn lại sau giám định có khối lượng là 0,5478 gam, đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 1221/2022, ngày 22/12/2022, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Lượng, giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.

Bị cáo được nói lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện:

Do muốn có ma túy để sử dụng nên vào khoảng 15 giờ 30 ngày 17 tháng 12 năm 2022 T đã mua một bịch ma túy của một người đàn ông (không xác định nhân thân lai lịch) với giá 700.000 đồng tại quán cà phê “Pha Lê” thuộc khu phố P, thị trấn L, huyện T, tỉnh G. Một lúc sau T ra về thì bị lực lượng chức năng kiểm tra bắt quả tang T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ là ma túy, loại methamphetamine, khối lượng 0,5750 gam.

Đối chiếu với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:….; c) Methamphetamin có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …”.

Như vậy, hành vi của bị cáo cất giấu 0,5750 gam ma túy loại Methamphetamin để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như đã viện dẫn nêu trên. Do đó, có cơ sở kết luận cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đối với đối tượng không xác định nhân thân lai lịch, theo lời khai của T, người này đã bán ma túy cho T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành do không thể xác định được đối tượng trên nên chưa thể làm việc được. Vì vậy, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ; nếu có cơ sở sẽ tiến hành xử lý theo quy định.

Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo gây ra: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; Bị cáo có đủ năng lực để nhận thức được rằng: Ma túy là loại độc dược gây nghiện do Nhà nước quản lý, nghiêm cấm mọi hoạt động tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy, mà bất kỳ ai có hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý nghiêm. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã trưởng thành, có đủ năng lực nhận thức rõ hậu quả của việc sử dụng ma túy không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, đạo đức cũng như kinh tế của chính bản thân bị cáo mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương đồng thời còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Mặc dù nhận thức rõ được tác hại của ma túy, nhưng với lối sống buông thả, không có trách nhiệm với bản thân bị cáo vẫn cố tìm mua ma túy để tàng trữ sử dụng thì bị phát hiện và bắt quả tang để chịu sự nghiêm trị của pháp luật.

Trong tình hình tội phạm về ma túy đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội và an ninh trật tự như hiện nay thì hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm, để răn đe giáo dục nhằm ngăn chặn và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, ngày 15/02/2023 T bị Tòa án Quân sự khu vực Quân khu 9 tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù về tội chống người thi hành công vụ nhưng vẫn chưa chấp hành án, qua đây để xem xét về nhân thân của bị cáo khi lượng hình.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án vừa của khung hình phạt cũng là phù hợp.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất còn lại sau giám định có khối lượng là 0,5478 gam, đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 1221/2022, ngày 22/12/2022, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Lượng, giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang. Đây là phong bì chứa ma túy còn lại sau giám định đồng thời là vật chứng thu giữ trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần xử tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Chống người thi hành công vụ” tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/2023/HS-ST ngày 15/02/2023 của Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 9. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 17/12/2022.

3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử tịch thu tiêu hủy nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất còn lại sau giám định có khối lượng là 0,5478 gam, đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 1221/2022, ngày 22/12/2022, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Lượng, giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang.

Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 16/QĐ-VKSCT ngày 29/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ