vanban.org

Bản án 20/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An Lão, TP. Hải Phòng Tuyên án 27/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị V 15 (mười lăm) tháng tù về tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Thị V cho Ủy ban nhân dân thị trấn Tiên Lãng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thị V - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị V 15 (mười lăm) tháng tù về tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HS-ST
Ngày 27-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phùng Ngọc Anh

Bà Bùi Thu Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Đăng Bùi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2022/TLST-HS, ngày 23 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2023, Quyết định hoãn phiên toà số 60/2023/QĐ-HSST ngày 11 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:

Đỗ Thị V, tại Hải Phòng; trú tại: Khu A, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Hữu H và bà Nguyễn Thị K; bị cáo có chồng là Lê Quang K, có 04 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/12/2022, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Bùi Thị O, sinh năm 1989 (đã chết). Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Bùi Văn K, sinh năm 1963, nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Văn C, trú tại: Xóm H, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định, vắng mặt tại phiên tòa.

- Chị Phạm Thị N, trú tại: Thôn T, xã M, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/7/2022, Đỗ Thị V (có giấy phép lái xe hạng B1) điều khiển xe ô tô BKS 15A-188.17 đi trên tỉnh lộ 354 theo hướng từ quận Kiến An về huyện Tiên Lãng. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn T, xã M, huyện A, V đỗ xe vào lề đường bên phải (theo chiều xe chạy) rồi vào quán Spa Phương Nhung để gội đầu. Đến khoảng 10 giờ 55 phút cùng ngày, sau khi gội đầu xong, V điều khiển xe ô tô BKS: 15A-188.17 chuyển hướng xe nhập làn đường để đi về huyện Tiên Lãng.

Do không tuân thủ quy định về chuyển hướng nên khi điều khiển xe ô tô nhập làn tham gia giao thông, V không quan sát xem có phương tiện nào đi đến không mà đã điều khiển xe để đi về huyện Tiên lãng. Đúng lúc này, chị Bùi Thị O điều khiển xe mô tô BKS: 15D1-195.54 từ phía sau đi đến đã va chạm vào xe ô tô của Vĩ nên ngã ra đường và bị xe ô tô BKS: 18C-068.76 do anh Nguyễn Văn C điều khiển đi đến va chạm với xe của chị O. Hậu quả, chị O bị thương phải đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Kiến An, đến ngày 21/7/2022 thì bị tử vong tại nhà riêng.

Bản giám định pháp y về tử thi số 182/2022/ TT ngày 26/9/2022 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: “Nạn nhân Bùi Thị O bị tai nạn giao thông chết vì suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp không hồi phục do chấn thương sọ não” (bút lục 91, 92).

Ngày 27/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão có Công văn số 484/CQĐT gửi Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng đề nghị Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng xác định: “Nguyên nhân tử vong của Bùi Thị O và cơ chế hình thành dấu vết”.

Ngày 05/11/2022 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng có công văn số 859/CV/PC09 trả lời như sau:

“Cơ chế hình thành thương tích: Do va đập mạnh (trực tiếp vào vùng chẩm). Nguyên nhân chết: Sốc chấn thương sọ não không hồi phục” (bút lục 144).

Kết quả khám nghiệm hiện trường và dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông xác định: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn thuộc Km 5+800, Tỉnh lộ 354 thuộc địa phận thôn T, xã M, huyện An Lão là khu vực đông dân cư. Lòng đường rộng 10,3m, ở giữa có vạch kẻ tim đường màu vàng chia hai chiều xe chạy riêng biệt. Hiện trường thể hiện có 04 vết xước, cụ thể như sau:

+ Vết xước 1 sáng màu, trượt xước trên đường có kích thước (1,4 x 0,02)m có chiều từ Kiến An về Tiên Lãng. Đầu vết xước 1 cách mép đường 2,6m, cạcú góc quán bên trái của nhà anh Trương Văn L là 4,8m. Cuối vết xước 1 cách mép đường là 2,7m.

+ Vết xước 2 sáng màu, trượt xước trên mặt đường có kích thước (0,65 x 0,01)m, có chiều từ Kiến An đi Tiên Lãng. Đầu vết xước 2 cách cuối vết xước 1 là 0,7m và cách mép đường là 3,0m. Cuối vết xước 2 cách mép đường là 2,95m.

+ Vết xước 3 sáng màu, trượt xước trên đường kích thước (0,7 x 0,01)m có chiều từ Kiến An về Tiên Lãng. Đầu vết xước 3 cách mép đường 3,1m và cách cuối vết xước 2 là 0,2m. Cuối vết xước 3 cách mép đường là 3,1m.

+ Vết xước 4 sáng màu, trượt xước trên đường, kích thước (2,8 x0,2)m, chiều từ Kiến An về Tiên Lãng. Đầu vết xước 4 cách mép đường là 0,8m và cách cuối vết xước 3 là 8,5m. Cuối vết xước 4 trùng với ốp bảo vệ động cơ bên trái của xe mô tô BKS 15D1-195.54 và cách mép đường 0,1m.

Xe mô tô BKS 15D1-195.54 đổ nghiêng bên trái, trục sau trùng với mép đường và cách trục sau bên trái của xe ô tô BKS: 15A-188.17 là 7,1m. Trục trước cách mép đường 0,1 m và cách cột mốc Km 5+800 là 36,6m.

Xe ô tô BKS: 15A-188.17: Đầu xe hướng vào quán tạp hóa của anh Trương Văn Lành, đuôi xe hướng tỉnh lộ 354 trục trước bên phụ cách mép đường 3,6, trục sau bên phụ cách mép đường 1,4 m và cách đầu vết xước 1 là 5,4 m.

Xe ô tô BKS: 18C-068.76 có đầu xe hướng về huyện Tiên Lãng, đuôi xe hướng quận Kiến An, trục sau bên phụ cách mép đường 2,65m và cách trụ trước xe mô tô BKS 15D1-195.54 là 7,4m. Trục trước bên phụ cách mép đường 3,25m, cách biển I423b là 11,35m và cách Km 5+800 là 25,5m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xác định:

Xe ô tô BKS: 15A – 188.17: Ốp nhựa phía ngoài BKS phía trước đầu xe bị trượt xước nhựa bám dính tạp chất màu đỏ (dạng sơn) kích thước (47x11) cm. Ốp nhựa phía ngoài cụm đèn chiếu sáng đèn tín hiệu bên phải phía trước bị trượt xước nhựa bám dính tạp chất màu đỏ (dạng sơn) kích thước (32x12)cm; Ốp nhựa phía ngoài cụm đèn chiếu sáng đèn tín hiệu bên trái phía trước và ốp nhựa cản trước bên trái liền kề phía dưới bị bung bật khỏi vị trí lắp ráp ban đầu, có vết hằn, trượt xước lớp sơn màu đen để lộ sơn lót màu trắng bám dính tạp chất màu đỏ, màu xanh nước biển, màu xanh (dạng sơn) kích thước (100x65) cm tâm vết cao cách đất 50 cm. Góc dưới phía trước cửa xe bên trái có vết trượt xước mất sơn màu đen để lộ sơn lót màu trắng theo chiều từ sau về trước kích thước (26 x 3)cm, tâm vết cách mặt đất 30cm

+ Xe mô tô BKS 15D1-195.54: Gương chiếu hậu bên trái cong gập từ trước về sau, bung bật khỏi vị trí lắp ráp ban đầu. Đầu lún tay phanh bên phải có vết trượt xước kim loại bám dính tạp chất màu nâu đen (dạng sơn) kích thước (2x1)cm. Tay lái bên phải phía trước dập rách cao su, trượt xước nhựa kích thước (10x2)cm. Cánh yếm bên phải bung bật khỏi vị trí lắp ráp ban đầu bề mặt trước xước mất sơn màu xanh bám dính tạp chất màu nâu dạng bụi đất kích thước (40x29)cm, tâm vết cao cách đất 50 cm. Bàn để chân bên phải phía trước vỡ khuyết nhựa bung bật khỏi vị trí lắp ráp ban đầu, ốp kim loại bị cong vênh, bề mặt trượt xước mặt nhựa màu đen, bụi đất màu nâu bám dính tạp chất màu đen (dạng sơn) kích thước (50x14) cm theo chiều từ trước về sau tâm vết cao cách đất 24 cm.

+ Xe ôtô BKS: 18C-068.76: Cách gờ trước cánh cửa bên phụ 12 cm có vết mài trượt chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới màu đen, kích thước (7x15) cm. Mặt ngoài ba đờ sốc trước bên phụ có vết nứt, vỡ đã cũ và vết mài trượt màu sáng kích thước (16x7) cm có chiều từ trước về sau. Cách vết xước này 10 cm xuống dưới có vết xước sáng màu, kích thước (6x4) cm chiều từ trước về sau. Tâm vết này cách mặt đất 58 cm. Mặt ngoài la zăng lốp trước bên phụ có 02 vết xước kim loại. Vết 1 kích thước (7x4) cm, điểm gần nhất của vết này cách đầu van 4 cm. Vết 2 cách điểm gần nhất vết 1 là 8 cm. Kích thước vết 2 là (7x5,5) cm. Hai vết này làm bong lớp sơn màu sáng lộ phần kim loại bên trong.

Tại bản giám định dấu vết cơ học số 112 ngày 18/8/2022 của PC09 Công an Hải Phòng kết luận: Dấu vết bẹp lõm kim loại, bề mặt trượt xước mất sơn màu đen, bám dính tạp chất màu trắng, màu xanh nước biển (dạng sơn) theo chiều từ sau về trước tại mặt ngoài tai xe bánh trước bên trái (bên lái) trên xe ô tô biển kiểm soát: 15A – 188.17 phù hợp với dấu vết dập vỡ nhựa, bề mặt trượt xước mất sơn màu xanh nước biển để lộ sơn lót màu trắng, bám dính tạp chất màu đen (dạng sơn) theo chiều từ trước về sau tại mặt ngoài ốp nhựa thân xe phía sau bên phải trên xe mô tô biển kiểm soát: 15D1– 195.54. Các dấu vết này được hình thành khi hai phương tiện chuyển động cùng chiều va chạm với nhau. Dấu vết trượt xước nhựa, mất sơn màu xanh nước biển, bám dính tạp chất màu xanh (dạng sơn) theo chiều từ sau về trước tại mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu bên trái phía trước và một phần ốp nhựa liền kề phía sau trên xe mô tô biển kiểm soát: 15D1– 195.54 phù hợp với dấu vết trượt xước mất sơn màu xanh, bề mặt bám dính tạp chất màu trắng (dạng mạt nhựa), màu xanh nước biển (dạng sơn) theo chiều từ trước về sau tại góc bên phải (bên phụ) cản trước xe ô tô biển kiểm soát: 18C – 068.76. Các dấu vết này được hình thành khi hai phương tiện chuyển động cùng chiều va chạm với nhau.Không đủ căn cứ xác định xe ô tô biển kiểm soát: 15A – 188.17; xe mô tô biển kiểm soát: 15D1– 195.54 và xe ô tô biển kiểm soát: 18C – 068.76 có va chạm với người, phương tiện, vật khác. Không đủ căn cứ xác định tốc độ xe ô tô biển kiểm soát: 15A – 188.17; xe mô tô biển kiểm soát: 15D1– 195.54 và xe ô tô biển kiểm soát: 18C – 068.76 trong thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông.

Bản giám định số 420/KL-KTHS(KTS) ngày 20/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận:

01 (một) tập tin video có phần mở rộng “AVI” dung lượng 300 MB (MD5: 5D2E03B7522A3256E87AF7ED7B62A07B) được lưu trong 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Kingston 16 GB đã qua sử dụng (Ký hiệu A) không tìm thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão, Đỗ Thị V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Trong quá trình điều tra Đỗ Thị V đã bồi thường số tiền 215.000.000 đồng cho gia đình Bùi Thị O. Đại diện gia đình chị O không yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đỗ Thị V.

Bản Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão đã truy tố bị cáo Đỗ Thị V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Thị V từ …. tháng đến …..tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về phần bồi thường đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai của Đỗ Thị V tại phiên toà phù hợp với lời khai bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường và dựng lại hiện trường, kết luận giám định về nguyên nhân chết của nạn nhân, phù hợp hình ảnh video ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông đã thu giữ, kết quả khám nghiệm phương tiện, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, nên đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/7/2022, Đỗ Thị V (có giấy phép lái xe hạng B1) điều khiển xe ô tô BKS 15A-188.17 chuyển hướng xe nhập làn đường để đi về huyện Tiên Lãng đã không tuân thủ quy định về chuyển hướng không quan sát các phương tiện tham gia giao thông đi trên đường nên đã đâm va vào xe mô tô BKS: 15D1-195.54 do chị Bùi Thị O điều khiển từ phía sau đi đến làm chị O ngã ra đường và bị xe ô tô BKS: 18C-068.76 do anh Nguyễn Văn C điều khiển đi đến va chạm với xe của chị O. Hậu quả, chị O bị thương phải đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Kiến An, đến ngày 21/7/2022 thì bị tử vong tại nhà riêng. Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông: Do Đỗ Thị V không tuân thủ quy định về chuyển hướng xe đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát: 15D1-195.54 do chị Bùi Thị O điều khiển. Hậu quả chị O bị thương, đến ngày 21/7/2022 chị O chết tại nhà riêng. Như vậy, Đỗ Thị V đã vi phạm quy định về chuyển hướng xe trên đường bộ theo khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ: “Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác”. Nên hành vi của bị cáo Đỗ Thị V phải chịu trách nhiệm hình sự và hành vi này đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo Đỗ Thị V đã xâm phạm đến an toàn công cộng ở mức độ nghiêm trọng. Tuy nhiên cũng cần xem xét đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân đối với bị cáo để áp dụng hình phạt tương xứng.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Thị V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Bùi Thị O số tiền là 215.000.000 đồng (hai trăm mười lăm triệu đồng) và được đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tai các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào hành vi cụ thể của bị cáo Đỗ Thị V tính chất của vụ án và các tình tiết nêu trên thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội do lỗi vô ý, hiện tại ngoại, có lý lịch và nơi cư trú rõ ràng. Bên cạnh đó, theo hình ảnh video ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông đã thu giữ và bản ảnh khám nghiệm hiện trường thì bị hại là chị Bùi Thị O cũng có một phần lỗi khi đi không làm chủ được tốc độ dẫn đến tai nạn. Nên không cần thiết phải cách ly bị cáo Đỗ Thị V ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa hôm nay cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa chung và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Việc áp dụng các điểm, khoản, điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo như Kiểm sát viên đã viện dẫn và đề nghị tại phiên toà là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đỗ Thị V hiện không có việc làm, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Đỗ Thị V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị V 15 (mười lăm) tháng tù về tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Thị V cho Ủy ban nhân dân thị trấn Tiên Lãng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:

Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Đỗ Thị V.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đỗ Thị V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo Đỗ Thị V, người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Bùi Văn K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./..

Cỡ chữ