- Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẠM VĂN TỊCH - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 107 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/HS-PT Ngày 03-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hằng
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Vân Thúy
Bà Nguyễn Minh Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trương Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 02/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023 do có kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 132/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Bị cáo bị kháng nghị: Phạm Văn T, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2000, tại Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT: Thôn TT, xã TX, huyện NX, tỉnh Thanh Hóa; nơi tạm trú: Số 10/42 AĐN - ĐK, phường ĐG, quận NQ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc T: Việt Nam; con ông Phạm Văn Hòa và bà Nguyễn Thị Tuyến; bị cáo chưa có vợ con; nhân thân: Tại Bản án số 35/2018/HSST ngày 29/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội Cố ý gây thương tích; tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 27/7/2022; tạm giam ngày 04/8/2022; có mặt.
Ngoài ra còn có 01 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 26/7/2022, sau khi ăn uống cùng bạn bè, Lê Văn Sơn và Phạm Văn T nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng nên đã thống nhất mỗi người bỏ ra 250.000 đồng để mua ma túy về cùng sử dụng. Do T chưa có tiền nên cả hai thỏa thuận Sơn sẽ bỏ ra 500.000 đồng trước. Sơn mượn xe mô tô BKS: 15K1-391.90 của anh Hà Văn Tuyến (sinh năm 2003, nơi cư trú: thôn TT, xã TX, huyện NX, tỉnh Thanh Hóa). T điều khiển xe mô tô chở Sơn đi từ nhà trọ ở số 10/42 đường Đông Khê, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đến đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Tại đây, Sơn đưa cho T 500.000 đồng rồi đợi ở ngoài, T đi vào đường tàu gặp và hỏi mua 500.000 đồng ma túy của một người đàn ông không quen biết, người này đồng ý nhận tiền và đưa cho T 01 gói nilon kích thước 2x2cm chứa ma túy đá. Sau đó, T đưa ma túy cho Sơn cầm rồi điều khiển xe mô tô chở Sơn về nhà trọ để cùng sử dụng ma túy. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi T và Sơn đi đến khu vực cuối ngõ 37 đường An Đà, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, Hải Phòng thì bị Công an phường Đằng Giang phát hiện, bắt quả tang, Sơn vất vội gói ma túy đang cầm trong tay xuống đất. Công an thu giữ dưới đất chỗ Sơn, T dừng xe 01 gói nilon kích thước 2x2cm chứa tinh thể màu trắng, 01 xe mô tô BKS: 15K1-391.90.
Khám xét khẩn cấp nơi ở trọ của Sơn, T tại số 10/42 AĐN - ĐK, phường ĐG, quận NQ, thành phố Hải Phòng không phát hiện, thu giữ đồ vật gì liên quan đến vụ án.
Bản Kết luận giám định số 370/KL-KTHS(MT) ngày 29/7/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng thu của Sơn, T là ma túy, có khối lượng 0,42 gam, là loại Methamphetamine. Mẫu nước tiểu của Sơn, T không tìm thấy chất ma túy.
Về vật chứng: 01 bì giấy niêm phong số 370MT/PC09 chứa vỏ bao bì và ma túy còn lại sau giám định chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 132/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp với bản án số 35/2018/HSST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt bị cáo 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội Cố ý gây thương tích. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 60 (Sáu mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 27/7/2022.
* Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: T thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 370MT/PC09 chứa vỏ bao bì và ma túy còn lại sau giám định theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 444/QĐ-VKSNQ ngày 13/12/2022, kháng nghị đối với Bản án sơ thẩm số 132/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền do áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 đối với hành vi phạm tội lần này của Phạm Văn T là không đúng quy định. Đề nghị Tòa phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” đối với bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến gì về nội dung kháng nghị, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 đối với hành vi phạm tội lần này của Phạm Văn T là không đúng quy định. Vì vậy, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, sửa bản án sơ thẩm, không áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” đối với bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đề nghị giữ nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; bị cáo khẳng định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội đồng thời khai nhận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 26/7/2022, tại khu vực cuối ngõ 37 đường An Đà, phường Đằng Giang, Quận Ngô Quyền, Hải Phòng, bị cáo cùng với Lê Văn Sơn có hành vi cất giấu trái phép 0,42 gam chất ma túy Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử bị cáo Phạm Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
Xét nội dung kháng nghị:
Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Phạm Văn T có 01 tiền án: Án số 35/2018/HSST ngày 29/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội Cố ý gây thương tích. Bị cáo phạm tội nghiêm trọng do lỗi cố ý khi đã đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi căn cứ điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự nên phạm tội lần này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Nhận định này là chưa đúng pháp luật bởi lẽ: Điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự quy định: “ Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý”. Hành vi phạm tội của bị cáo T bị kết án tại Bản án số 35/2018/HSST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân nhân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, thời điểm phạm tội vào ngày 19/3/2018 khi T đang 17 tuổi 06 tháng 20 ngày. Đối với tội phạm nghiêm trọng do lỗi vô ý hay cố ý nhưng thời điểm phạm tội khi dưới 18 tuổi vẫn được coi là không có án tích. Lần phạm tội này của bị cáo không áp dụng tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 444/QĐ-VKSNQ ngày 13/12/2022; cần sửa bản án sơ thẩm và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tổng hợp hình phạt: Bản án số 35/2018/HSST ngày 29/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt bị cáo Phạm Văn T 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, bị cáo phạm tội lần này trong thời gian thử thách của bản án trước nên cần áp dụng Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Phạm Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
Về án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, sửa Bản án sơ thẩm số 132/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp với Bản án số 35/2018/HSST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt bị cáo 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội Cố ý gây thương tích. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 54 (Năm mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 27/7/2022.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 132/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND TP.Hải Phòng; - VKSND quận Ngô Quyền; - PV06 Công an TPHP; - Cơ quan CSĐT quận Ngô Quyền; - Cơ quan THAHS quận Ngô Quyền; - TAND quận Ngô Quyền; - Sở Tư pháp TP; - Bị cáo; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu Hằng |