- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn T + đp - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo La Văn H, Phan Văn T. Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang có hiệu lực pháp luật đối với các bị cáo kể từ ngày 22/6/2023.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/HS-PT Ngày 22 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hùng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Vinh và bà Nguyễn Thanh Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 33/2023/TLPT-HS ngày 22 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Phan Văn T cùng đồng phạm do có kháng cáo của bị cáo Phan Văn T, La Văn H và Ma Văn Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2023/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Phan Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 30/11/1992 tại huyện N, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T và bà Tống Thị L; vợ Dương Thị P, con: Có 02 con.
* Tiền án: Bản án số 21/2020/HS-ST ngày 17/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng về tội Đánh bạc (chấp hành xong thời gian thử thách của án treo ngày 17/11/2021), chưa được xóa án tích.
* Tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
2. La Văn H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 18/12/1987 tại huyện N, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 06/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông La Tài T, tên gọi khác: La Văn T (đã chết) và bà Phùng Thị M; vợ Triệu Thị H, con: Có 02 con.
* Tiền án: Không.
* Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 34/QĐ-XPHC ngày 05/5/2022 của Công an huyện N, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, phạt tiền 1.500.000 đồng (nộp phạt ngày 06/5/2022).
* Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 70/QĐ-XPHC ngày 26/8/2015 của Công an huyện N, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, phạt tiền 1.500.000 đồng (nộp phạt ngày 27/8/2015).
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
3. Ma Văn Đ, tên gọi khác: Không; sinh ngày 22/3/1991 tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn BB, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ma Văn Hiệp và bà Lương Thị Nhính; vợ Hà Thị Thảo, con: Có 02 con.
* Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho các bị cáo La Văn H, Ma Văn Đ: Bà Vũ Thanh Thủy - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 17/10/2022, Lục Văn Hoàng gọi điện thoại rủ Phan Văn T đến nhà Đặng Văn Chương đánh bạc, T đồng ý và rủ La Văn H cùng đi đánh bạc. Sau khi gọi điện thoại cho T xong, Hoàng tiếp tục gọi điện thoại cho Ma Văn Đ nói “Có mấy anh em ở N xuống chơi, anh với em xuống nhà Chương đánh sâm cho đủ chân”, Đ đồng ý. Trên đường đi Đ mua một bộ bài tú lơ khơ rồi cùng Hoàng xuống nhà Chương. Khi đến nơi không thấy Chương ở nhà nên Hoàng gọi điện thoại cho Chương nói “Cho mượn nhà đánh sâm một lúc”, Chương đồng ý và nói với Hoàng “Chơi thì chơi một lúc thôi, tý về còn đưa bà già đi viện”. Sau đó, Hoàng vào nhà của Chương lấy một chiếc chiếu cói trải xuống nền nhà bếp rồi cùng T, H, Đ đánh bạc bằng hình thức đánh sâm sát phạt nhau bằng tiền. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì Chương về nhà thấy mọi người đang đánh bạc tại bếp nhà mình nH không tham gia. Mọi người đánh bạc đến 13 giờ 40 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện C phát hiện và lập biên bản thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ; 200.000 đồng trên chiếu bạc; 01 chiếu cói đã qua sử dụng. Ngoài ra quá trình tổ công tác lập biên bản Phan Văn T còn tự giác giao nộp số tiền 3.430.000 đồng; Ma Văn Đ 40.000 đồng; La Văn H 1.380.000 đồng; Lục Văn Hoàng 3.650.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định: Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 8.700.000 đồng; trong đó: Phan Văn T sử dụng số tiền 2.700.000 đồng (T bạc 730.000 đồng); La Văn H sử dụng số tiền 2.000.000 đồng (thua bạc 620.000 đồng); Lục Văn Hoàng sử dụng số tiền 2.000.000 đồng (T bạc 1.650.000 đồng); Ma Văn Đ sử dụng số tiền 2.000.000 đồng (thua bạc 1.960.000 đồng).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Phan Văn T, La Văn H và Ma Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo La Văn H 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phan Văn T 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án. Phạt tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
- Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Ma Văn Đ 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án. Phạt tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 19/4/2023, các bị cáo Ma Văn Đ và La Văn H có đơn kháng cáo xin hưởng án treo. Ngày 21/4/2023, bị cáo Phan Văn T có đơn xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa các bị cáo La Văn H và Phan Văn T xin rút toàn bộ nội dung đơn kháng cáo.
Bị cáo Ma Văn Đ giữ nguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định pháp luật; đơn kháng cáo của các bị cáo hợp lệ trong hạn luật định; thủ tục giải quyết vụ án đúng trình tự tố tụng.
- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá vai trò, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt các bị cáo La Văn H, Phan Văn T mỗi bị cáo 08 tháng tù, bị cáo Ma Văn Đ 07 tháng tù về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Tại phiên tòa các bị cáo La Văn H và Phan Văn T xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo, xét thấy việc rút kháng cáo của các bị cáo là tự nguyện, không bị ép buộc. Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 342 và Điều 348; điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo La Văn H và Phan Văn T, bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang có hiệu lực pháp luật đối với các bị cáo La Văn H và Phan Văn T.
Bị cáo Ma Văn Đ xuất trình 01 đơn xin hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương; 01 biên lai thu tiền phạt. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Đề nghị Hội đồng xét căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ma Văn Đ, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang theo hướng:
Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Ma Văn Đ 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách theo quy định.
Các bị cáo La Văn H, Phan Văn T và Ma Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận bị cáo Ma Văn Đ đã nộp xong khoản tiền phạt 10.000.000 đồng, tại Biên lai số 0002732 ngày 02/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Phần tranh luận: Bị cáo Ma Văn Đ không có ý kiến tranh luận gì.
Bản bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý xuất trình tại phiên tòa với nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo Ma Văn Đ được hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo tiếp tục thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Do vậy, có đủ căn cứ xác định: Khoảng hơn 11 giờ, ngày 17/10/2022, tại nhà bếp của bị cáo Đặng Văn Chương các bị cáo Lục Văn Hoàng, Phan Văn T, Ma Văn Đ và La Văn H đã thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc bằng hình thức đánh sâm, cá cược được thua bằng tiền Việt Nam đồng. với tổng số tiền là 8.700.000 đồng (Tám triệu bảy trăm nghìn đồng). Trong đó: Phan Văn T sử dụng số tiền 2.700.000 đồng; La Văn H sử dụng số tiền 2.000.000 đồng; Lục Văn H sử dụng số tiền 2.000.000 đồng; Ma Văn Đ sử dụng số tiền 2.000.000 đồng; Đặng Văn Chương không tham gia đánh bạc nhưng cho các bị cáo mượn địa điểm đánh bạc. Do vậy, Toà án nhân dân huyện C xét xử các bị cáo về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo La Văn H và Phan Văn T xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo, xét thấy việc rút kháng cáo của các bị cáo là tự nguyện, không bị ép buộc. Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 342 và Điều 348; điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo La Văn H và Phan Văn T, bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang có hiệu lực pháp luật đối với các bị cáo La Văn H và Phan Văn T.
Đối với kháng cáo của bị cáo Ma Văn Đ xét thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Ma Văn Đ xuất trình 01 đơn xin hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương; 01 biên lai thu tiền phạt 10.000.000 đồng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng và xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự; cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung tại địa phương.
Về án phí: Các bị cáo La Văn H, Phan Văn T và Ma Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 342 và Điều 348; điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo La Văn H, Phan Văn T. Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang có hiệu lực pháp luật đối với các bị cáo kể từ ngày 22/6/2023.
2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ma Văn Đ, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang về hình phạt đối với bị cáo như sau: Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Ma Văn Đ 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời hạn thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (22/6/2023). Ghi nhận bị cáo Ma Văn Đ đã nộp xong khoản tiền phạt 10.000.000 đồng, tại Biên lai thu tiền số 0002732 ngày 02/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
Giao bị cáo Ma Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã Hùng Mỹ, huyện C, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt tù của bản án mới theo quy định. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 2 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
3. Về án phí: Các bị cáo La Văn H, Phan Văn T, Ma Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (22/6/2023).
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh T.Quang; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh TQuang; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - TAND huyện C; - VKSND huyện C; - CQCSĐT Công an huyện C; - Chi cục THA huyện C; - Bị cáo; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Minh Hùng |