- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/HNGĐ–ST Ngày: 20/3/2023 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – TP CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Việt Th
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thúy K
2. Bà Thái Ánh Tr
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim X – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 252/2022/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 12 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/QĐ-TA ngày 13 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự :
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc T - sinh năm 1984;
Địa chỉ: Số 491, ấp Thạnh Phước 2, xã Trung Thạnh, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Huỳnh Văn M - sinh năm 1981;
Địa chỉ: Số 141, khu vực Thới Bình, phường Thới Thuận, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng lần thứ 02)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 10 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông M do quen biết, tự tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới vào năm 2003 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Thới Thuận vào ngày 09 tháng 8 năm 2011 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 134/2011. Sau khi kết hôn, thời gian đầu cuộc sống hạnh phúc, tuy nhiên thời gian sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng hường hay cãi vả làm cuộc hôn nhân không còn hạnh phúc nữa. Hiện ông, bà đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Trong thời gian ly thân giữa bà T và ông M không liên lạc với nhau và cũng không có biện pháp để xóa bỏ mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm. Nay nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng nữa nên bà T xin ly hôn với ông M.
- Về con chung: Quá trình chung sống có 01 người con chung tên Huỳnh Thị Kiều H , sinh ngày 03/12/2004. Bà T yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung đến trưởng thành, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Qúa trình giải quyết vụ án, dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng ông Huỳnh Văn Mới vắng mặt không rõ lý do.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xác định không còn tình cảm nên xin được ly hôn với bị đơn ông M.
Về con chung đã trưởng thành nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại viện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn không tuân thủ đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn do có cơ sở.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghieân cöùu caùc taøi lieäu, chứng cứ coù trong hoà sô vuï aùn đã ñöôïc thaåm tra taïi phieân toøa vaø caên cöù vaøo keát quả tranh luaän taïi phieân toøa. Hoäi ñoàng xeùt xöû nhaän ñònh:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Hôn nhân giữa bà Trần Thị Ngọc T và ông Huỳnh Văn M là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống xãy ra mâu thuẫn, bà T khởi kiện xin ly hôn với ông M, đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông M sinh sống tại khu vực Thới Bình, phường Thới Thuận, quận Thốt Nốt nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt.
[2] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Quá trình nhận đơn khởi kiện, thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông M đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông M đều vắng mặt, nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt lần thứ 02, Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.
[3] Về yêu cầu ly hôn: Nhận thấy hôn nhân giữa ông bà thông qua quen biết, tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn đúng theo quy định nên được xem là hôn nhân tự nguyện, tuy nhiên trong quá trình chung sống lại xãy ra mâu thuẫn. Bà T cho rằng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên làm cho cuộc sống vợ chồng thường xuyên xãy ra cãi vã, hôn nhân không còn hạnh phúc nên ông bà đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay mà không có biện pháp hàn gắn tình cảm.
Quá trình giải quyết vụ án, tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do. Qua đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã rất trầm trọng không thể hòa giải được, ông M đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân này để cho bà T tự mình giải quyết. Tại phiên tòa, bà T vẫn cương quyết xin ly hôn nên Hội đồng xét xử thấy nếu tiếp tục duy trì hôn nhân cũng không đạt được mục đích cuối cùng là mang lại hạnh phúc cho cả hai bên vì vậy, nghĩ nên chấp nhận cho bà T ly hôn với ông M là phù hợp.
[4] Về con chung: Xét lời trình bày của bà T, trong quá trình chung sống giữa ông M và bà T có 01 người con chung tên Huỳnh Thị Kiều H , sinh ngày 03/12/2004.
Do con chung đã trên 18 tuổi, mặc khác bà T cũng không có yêu cầu gì liên quan đến con chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T cho rằng quá trình chung sống, ông và ông M không có tài sản chung và không có nợ chung do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ giải quyết trong vụ án khác.
[6] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[7] Xét ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 5; 28; 35; 39; 147; 207; 227; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 56, 81; 82; 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Nghị quyết Số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, qản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Ngọc T và ông Huỳnh Văn M .
Về con chung: Công nhận ông, bà có có 01 người con chung tên Huỳnh Thị Kiều H , sinh ngày 03/12/2004. Do con chung đã trưởng thành, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0004822 ngày 19 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ. Công nhận bà T đã nộp xong án phí.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: -TAND TP. Cần Thơ; -VKSND quận Thốt Nốt; -Cơ quan THA quậnThốt Nốt; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | Phan Việt Thắng |